Chuyển tới nội dung
Home » Cấu Tạo Chức Năng Của Da | Tìm Hiểu Cụ Thể Về Các Tầng Lớp Của Da

Cấu Tạo Chức Năng Của Da | Tìm Hiểu Cụ Thể Về Các Tầng Lớp Của Da

Cấu tạo và chức năng của da - Bài 41 - Sinh học 8 - Cô Mạc Phạm Đan Ly (HAY NHẤT)

Mỡ dưới da (Subcutaneous Fat)

Một lớp mỡ dưới da nằm giữa lớp bì và lớp cân cơ bên dưới. Nó giúp cách ly cơ thể khỏi lạnh, đệm các mô sâu khỏi chấn thương va đập và đóng vai trò là nguồn năng lượng dự trữ cho cơ thể. Các tế bào mỡ có hoạt tính sinh học đóng một vai trò trong việc truyền tin hormone, bằng chứng là rối loạn chuyển hóa ở trẻ và thanh thiếu niên béo phì với tình trạng kháng insulin ngoại biên. Trong lớp mỡ dưới da, các tập hợp tế bào mỡ được ngăn cách bởi các vách ngăn dạng sợi được các mạch máu và dây thần kinh đi qua (Hình 2.16).

Mỡ dưới da:

  1. Cách nhiệt
  2. Hấp thụ chấn thương
  3. Nguồn năng lượng dự trữ
  4. Hoạt động sinh học

Các tế bào ở lớp sừng thì được gắn kết với nhau bởi các lipid biểu bì. Những lipid này thì rất quan trọng để tạo nên một làn da khỏe mạnh: chúng tạo nên hàng rào bảo vệ và giữ được độ ẩm cho da. Khi các lipid bị mất đi, da trở nên khô hơn và cảm giác bị căng và sần sùi.

Sau khi nặn mụn nên làm gì?

Sau khi nặn mụn để lấy đi nhân mụn, da cũng cần chăm sóc để duy trì sức khoẻ của bề mặt da.


>>> Xem thêm:

6 nguyên nhân gây nám tàn nhang ở phụ nữ và phương pháp điều trị

Biểu bì được bao phủ bởi chất nhũ tương gồm nước và lipid (chất béo) được biết như các

màng hydrolipid

. Lớp màng này giúp duy trì sự tiết mồ hôi và bã nhờn, giúp làn da được mềm hơn và hoạt động giống như hàng rào chống lại vi khuẩn và nấm.


Phần nước của màng này, như là các acid bảo vệ bao gồm:

  • Axit lactic và một số các amino axit từ mồ hôi
  • Các axit tự do từ dầu
  • Các amino axit, axit cacboxilic pyrrolidine và các nhân tố tạo độ ẩm tự nhiên khác (NMFs)- là nhân tố của quá trình sừng hóa.


>>> Xem thêm:

Sắc tố melanin là gì? Liệu có phải là tác nhân gây nám sạm da?

Các tế bào ở lớp sừng thì được gắn kết với nhau bởi các lipid biểu bì. Những lipid này thì rất quan trọng để tạo nên một làn da khỏe mạnh: chúng tạo nên hàng rào bảo vệ và giữ được độ ẩm cho da. Khi các lipid bị mất đi, da trở nên khô hơn và cảm giác bị căng và sần sùi.

Sau khi nặn mụn nên làm gì?

Sau khi nặn mụn để lấy đi nhân mụn, da cũng cần chăm sóc để duy trì sức khoẻ của bề mặt da.


>>> Xem thêm:

6 nguyên nhân gây nám tàn nhang ở phụ nữ và phương pháp điều trị

Biểu bì được bao phủ bởi chất nhũ tương gồm nước và lipid (chất béo) được biết như các

màng hydrolipid

. Lớp màng này giúp duy trì sự tiết mồ hôi và bã nhờn, giúp làn da được mềm hơn và hoạt động giống như hàng rào chống lại vi khuẩn và nấm.


Phần nước của màng này, như là các acid bảo vệ bao gồm:

  • Axit lactic và một số các amino axit từ mồ hôi
  • Các axit tự do từ dầu
  • Các amino axit, axit cacboxilic pyrrolidine và các nhân tố tạo độ ẩm tự nhiên khác (NMFs)- là nhân tố của quá trình sừng hóa.


>>> Xem thêm:

Sắc tố melanin là gì? Liệu có phải là tác nhân gây nám sạm da?

Da có mấy lớp?

Mặc dù da đóng vai trò rất quan trọng đối với cơ thể nhưng khi hỏi da có mấy lớp thì không phải ai cũng có câu trả lời chính xác. Theo thứ tự từ ngoài vào trong, da được chia làm 3 lớp:

Lớp thượng bì

Lớp thượng bì nằm ở bên ngoài cùng trong cấu trúc da được hình thành bởi các mô vảy sừng phân hóa. Lớp thượng bì được chia ra thành 5 lớp nhỏ bao gồm:

  • Lớp đáy nằm ở vị trí trong cùng, đây là nơi sản sinh các tế bào keratinocyte.
  • Lớp hạt là nơi bắt đầu cho quá trình sừng hóa, sản sinh hạt nhỏ và di chuyển lên lớp gai để tạo thành chất sừng và nhũ tương.
  • Lớp gai giữ nhiệm vụ sản sinh chất sừng.
  • Lớp bóng thường bằng phẳng và khó phân biệt ranh giới.
  • Lớp sừng ở ngoài cùng được tạo nên bởi sự liên kết các lipid biểu bì.

Mỗi lớp có độ dày trung bình khoảng 0,1 – 1mm tùy vào những vị trí khác nhau trên cơ thể. Thông thường, những khu vực như da tay, da chân sẽ dày hơn và mi mắt là vị trí mỏng nhất. Lớp thượng bì có khả năng tái sinh sau khi bị tổn thương tuy nhiên mức độ sẽ giảm dần theo thời gian.

Về cấu tạo, da được chia làm 3 lớp là thượng bì, trung bì và hạ bì

Lớp trung bì

Lớp trung bì nằm vị trí ở giữa lớp thượng bì và hạ bì, độ dày ở khoảng 0,5 – 4mm. Lớp này được xem là “phao đệm” nâng đỡ cho lớp thượng bì được cấu tạo từ các chất như elastin, hyaluronic acid, collagen, mạch máu và dây thần kinh, có tác dụng giúp da săn chắc, đàn hồi và luôn được giữ ẩm.

Lớp trung bì có các chức năng cơ bản là:

  • Cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho lớp thượng bì.
  • Quyết định độ nhạy cảm của da.
  • Bảo vệ cơ học cho cấu trúc sâu hơn của da.

Lớp trung bì cũng là nơi chứa tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi.

Lớp hạ bì (mô mỡ dưới da)

Lớp hạ bì được cấu tạo chủ yếu từ các mô mỡ nằm ở phía trong cùng. Lớp hạ bì hoạt động như một lớp đệm cách nhiệt đồng thời bổ sung năng lượng cho da. Vai trò chính của lớp hạ bì là chịu lực, hạn chế lực tác động từ bên ngoài để giảm tổn thương khi xảy ra va chạm mạnh. Ngoài ra, các mô mỡ ở lớp hạ bì còn có tác dụng điều hòa thân nhiệt và sản xuất hormone estrogen, testosterone.

Lớp hạ bì là lớp mỡ dưới da nằm ở trong cùng

Cấu tạo và chức năng của da - Bài 41 - Sinh học 8 - Cô Mạc Phạm Đan Ly (HAY NHẤT)
Cấu tạo và chức năng của da – Bài 41 – Sinh học 8 – Cô Mạc Phạm Đan Ly (HAY NHẤT)

Lựa chọn dịch vụ

Quý khách hàng vui lòng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu!

Cảm giác

Đây là chức năng của da trên lớp hạ bì. Thông qua các đầu dây thần kinh ở lớp hạ bì, chúng ta cảm nhận được cảm giác nóng, lạnh, áp lực, tiếp xúc và đau khác nhau.

Những cảm giác này trên da đóng vai trò bảo vệ chúng ta khỏi vết thương do bỏng (bỏng độ một và độ hai). Tuy nhiên, trong trường hợp bỏng độ ba, bạn sẽ không cảm thấy đau nữa vì các đầu dây thần kinh trên da đã bị phá hủy.


>>> Đọc thêm:

Bệnh bỏng là gì? Triệu chứng & thuốc

Chức năng nội tiết

Da là một trong những nguồn cung cấp

vitamin D

chính của cơ thể thông qua việc sản xuất Cholecalciferol (D3) ở hai lớp dưới cùng của biểu bì (lớp đáy và lớp gai).

Hy vọng với những thông tin về cấu trúc và chức năng của da, bạn đọc đã hiểu hơn vai trò của cơ quan này đối với sức khỏe của chính mình!

Cảm giác

Đây là chức năng của da trên lớp hạ bì. Thông qua các đầu dây thần kinh ở lớp hạ bì, chúng ta cảm nhận được cảm giác nóng, lạnh, áp lực, tiếp xúc và đau khác nhau.

Những cảm giác này trên da đóng vai trò bảo vệ chúng ta khỏi vết thương do bỏng (bỏng độ một và độ hai). Tuy nhiên, trong trường hợp bỏng độ ba, bạn sẽ không cảm thấy đau nữa vì các đầu dây thần kinh trên da đã bị phá hủy.


>>> Đọc thêm:

Bệnh bỏng là gì? Triệu chứng & thuốc

Chức năng nội tiết

Da là một trong những nguồn cung cấp

vitamin D

chính của cơ thể thông qua việc sản xuất Cholecalciferol (D3) ở hai lớp dưới cùng của biểu bì (lớp đáy và lớp gai).

Hy vọng với những thông tin về cấu trúc và chức năng của da, bạn đọc đã hiểu hơn vai trò của cơ quan này đối với sức khỏe của chính mình!

Biên dịch: Bác sĩ Trương Tấn Minh Vũ

vnras.com/drug – Để tải file PDF của bài viết Cấu trúc và chức năng của da, xin vui lòng click vào link ở đây.

Chức năng của da

Các chức năng chính của da

Bảo vệ cơ thể khỏi mọi tác động bên ngoài như:

  • Cơ, nhiệt hoặc tác động vật lý khác.
  • Chất gây ô nhiễm.
  • Mất quá nhiều độ ẩm và vitamin.
  • Tác hại của tia bức xạ, tia tử ngoại.

Điều hòa nhiệt độ:

Một trong những chức năng quan trọng của da là bảo vệ cơ thể khỏi lạnh và nóng và duy trì nhiệt độ cơ thể ổn định. Điều này được thực hiện bằng cách thay đổi lưu lượng máu qua lớp mạch máu của da. Trong những tháng ấm hơn, các mạch máu giãn ra, da chuyển sang màu đỏ và các hạt mồ hôi hình thành trên bề mặt (giãn mạch = lưu lượng máu nhiều hơn = mất nhiệt trực tiếp nhiều hơn). Khi thời tiết lạnh, mạch máu co lại, cản trở nhiệt thoát ra ngoài (co mạch = máu chảy ít hơn = mất nhiệt ít hơn). Việc loại bỏ và bay hơi mồ hôi trên bề mặt da cũng giúp làm mát cơ thể.

Cảm nhận kích thích đau đớn hay dễ chịu:

Da là cơ quan “xúc giác” gây ra phản ứng khi bị chạm hoặc cảm nhận bởi bất cứ thứ gì, kể cả những thứ có thể gây đau. Điều này rất quan trọng đối với những bệnh nhân mắc các bệnh về da, vì nhiều người bị đau và ngứa, có thể làm giảm chất lượng cuộc sống của họ.

Da còn có chức năng thẩm mỹ, tạo nên ngoại hình rất quan trọng trong cuộc sống và giao tiếp hàng ngày.

Một số tính năng khác

Giám sát miễn dịch: Da là cơ quan miễn dịch quan trọng bao gồm các cấu trúc và tế bào quan trọng. Nhiều loại tế bào và chất truyền tin (cytokine) tham gia vào phản ứng miễn dịch.

Chức năng sinh hóa: Da tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa. Khi có ánh sáng mặt trời, một dạng vitamin D được gọi là cholecalciferol được tổng hợp trong da từ các dẫn xuất của cholesterol steroid. Gan chuyển đổi cholecalciferol thành calcidiol. Vitamin D cần thiết cho sự hấp thụ bình thường của canxi và photpho, cần thiết cho xương khỏe mạnh. Da cũng chứa các thụ thể cho các hormone steroid khác (estrogen, progestin, glucocorticoid) và vitamin A.

Chức năng xã hội và tình dục: Mọi người có thể đưa ra đánh giá dựa trên những gì họ nhìn thấy và hình thành ấn tượng đầu tiên về một người dựa trên vẻ ngoài của họ.

Qua tìm hiểu ở trên, bạn đã biết được da có cấu tạo như thế nào. Bề mặt bên trong của da được nuôi dưỡng bằng đường uống. Bề mặt bên ngoài của da chủ yếu được nuôi dưỡng bằng cách thẩm thấu. Vì vậy, sự quan tâm và chăm sóc từ bên ngoài là rất quan trọng.

Ánh Vũ

Nguồn tham khảo: Tổng hợp

Cấu trúc da và chức năng của da hoạt động như thế nào - Dược sĩ Nguyễn Thị Thùy Trang
Cấu trúc da và chức năng của da hoạt động như thế nào – Dược sĩ Nguyễn Thị Thùy Trang

Cấu trúc, thành phần và các lớp của da.

  • Biểu bì: Lớp trên cùng
  • Trung bì: Lớp giữa
  • Lớp dưới da: Lớp dưới cùng hoặc lớp mỡ

Lớp biểu bì

Là lớp đàn hồi ở bên ngoài liên tục được tái tạo, bao gồm:

  • Keratinocytes: Các tế bào sừng sản xuất keratin (protein dạng sợi dai). Tế bào này được hình thành do sự phân chia tế bào ở lớp đáy. Các tế bào mới liên tục di chuyển từ lớp thấp nhất của biểu bì lên các lớp trên cùng, chúng dần dần thành tế bào chết dẹt.
  • Corneocytes: Các tế bào sừng chết kết hợp với nhau tạo nên lớp ngoài cùng của lớp biểu bì được gọi là lớp sừng. Lớp bảo vệ này liên tục bị bào mòn hoặc bong ra.
  • Melanocytes: (Tế bào biểu bì tạo hắc tố) sản xuất sắc tố melanin bảo vệ da. Nhờ melanin mà chức năng của da chính là chống lại bức xạ cực tím, cũng như mang lại màu sắc cho da.

Lớp trung bì

Là lớp bên trong bao gồm:

  • Các tuyến mồ hôi: Sản xuất ra mồ hôi thông qua các ống dẫn mồ hôi đến lỗ trên lớp biểu bì được gọi là lỗ chân lông. Chúng đóng vai trò điều hòa nhiệt độ.
  • Nang lông: Đóng vai trò trong việc điều chỉnh nhiệt độ.
  • Các tuyến bã nhờn: Việc sản xuất bã nhờn giúp giữ cho lông không bị bám bụi bẩn và vi khuẩn. Bã nhờn và mồ hôi tạo nên lớp màng bề mặt.

Lớp hạ bì

  • Lớp hạ bì được tạo thành từ mô liên kết và chất béo (chất cách nhiệt tốt).

Các tầng lớp của da

2.Lớp biểu bì

Biểu bì là lớp ngoài cùng của da, được định nghĩa là biểu mô vảy phân tầng, chủ yếu bao gồm các tế bào sừng trong các giai đoạn biệt hóa tiến triển. Tế bào sừng tạo ra chất sừng protein và là thành phần xây dựng chính (tế bào) của lớp biểu bì. Vì lớp biểu bì là vô mạch (không chứa mạch máu), nó hoàn toàn phụ thuộc vào lớp hạ bì bên dưới để phân phối chất dinh dưỡng và thải chất thải qua màng đáy.

Chức năng chính của lớp biểu bì là hoạt động như một rào cản vật lý và sinh học đối với môi trường bên ngoài, ngăn chặn sự xâm nhập của các chất kích thích và chất gây dị ứng. Đồng thời, nó ngăn ngừa sự mất nước và duy trì cân bằng nội môi. Biểu bì được cấu tạo bởi các lớp; hầu hết các bộ phận cơ thể có bốn lớp, nhưng những người có lớp da dày nhất có năm lớp.

Các tế bào ở da bao gồm:

– Tế bào sừng (Keratinocyte) sản xuất keratin (protein dạng sợi dai). Tế bào sừng được hình thành do sự phân chia trong lớp đáy. Khi chúng di chuyển lên qua tầng gai và tầng hạt, chúng phân hóa để tạo thành một cấu trúc bên trong cứng chắc của keratin, vi sợi và vi ống (keratinisation). Lớp ngoài của biểu bì, lớp sừng, bao gồm các lớp tế bào chết dẹt đã mất nhân. Các tế bào này sau đó bị bong ra khỏi da (bong vảy); quá trình hoàn chỉnh này mất khoảng 28 ngày.

Giữa các tế bào sừng này có một hỗn hợp phức tạp của lipid và protein. Các lipid gian bào này bị phân hủy bởi các enzyme từ tế bào sừng để tạo ra một hỗn hợp lipid gồm ceramide (phospholipid), axit béo và cholesterol. Các phân tử này được sắp xếp theo kiểu tổ chức cao, kết hợp với nhau và các tế bào sừng để tạo thành hàng rào lipid của da chống lại sự mất nước và sự xâm nhập của các chất gây dị ứng và kích ứng.

Lớp sừng có thể được hình dung như một bức tường gạch, với các tế bào sừng tạo thành gạch và các lớp lipid tạo thành vữa. Vì các tế bào sừng có chứa chất giữ nước – một yếu tố giữ ẩm tự nhiên – chúng hút và giữ nước. Hàm lượng nước cao trong các tế bào sừng khiến chúng phồng lên, giữ cho lớp sừng mềm dẻo và đàn hồi, đồng thời ngăn ngừa sự hình thành các vết nứt và rạn. Đây là một lưu ý quan trọng khi áp dụng các loại thuốc bôi ngoài da. Chúng được hấp thụ qua hàng rào biểu bì vào các mô và cấu trúc bên dưới (hấp thụ qua da) và chuyển đến hệ tuần hoàn.

Lớp sừng quy định số lượng và tốc độ hấp thụ qua da. Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến điều này là độ ẩm của da và độ ẩm môi trường. Ở những làn da khỏe mạnh với quá trình hydrat hóa bình thường, thuốc chỉ có thể thâm nhập vào lớp sừng bằng cách đi qua hàng rào lipid chặt chẽ, tương đối khô giữa các tế bào. Khi tăng độ ẩm cho da hoặc hàng rào bình thường của da bị suy giảm do bệnh da, bong tróc, bào mòn, nứt nẻ hoặc sinh non, sự hấp thụ qua da sẽ tăng lên.

– Tế bào hắc tố: những tế bào này tạo ra sắc tố da sẫm màu. Tế bào hắc tố được tìm thấy ở tầng đáy và nằm rải rác giữa các tế bào sừng dọc theo màng đáy với tỷ lệ một tế bào hắc tố trên 10 tế bào đáy. Chúng tạo ra sắc tố melanin, được sản xuất từ tyrosine, là một axit amin, được đóng gói trong các túi tế bào gọi là melanosomes, và được vận chuyển và phân phối vào tế bào chất của tế bào sừng. Chức năng chính của melanin là hấp thụ bức xạ tia cực tím (UV) để bảo vệ chúng ta khỏi tác hại của nó.

Màu da không được xác định bởi số lượng tế bào hắc tố mà bởi số lượng và kích thước của các melanosome. Nó bị ảnh hưởng bởi một số sắc tố, bao gồm melanin, caroten và hemoglobin. Melanin được chuyển vào tế bào sừng thông qua melanosome. Do đó, màu sắc của da phụ thuộc vào số lượng melanin được sản xuất bởi các tế bào hắc tố ở tầng đáy và được các tế bào sừng tiếp nhận.

Melanin xuất hiện ở hai dạng chính:

+ Eumelanin: tồn tại dưới dạng đen và nâu

+ Pheomelanin: tạo màu đỏ

Màu da cũng bị ảnh hưởng bởi việc tiếp xúc với bức xạ UV, các yếu tố di truyền và ảnh hưởng nội tiết tố.

– Tế bào Merkel: được liên kết với các đầu dây thần kinh cảm giác. Những tế bào này chỉ hiện diện với một số lượng rất nhỏ trong tầng đáy. Chúng liên kết chặt chẽ với các sợi tận cùng của dây thần kinh da và dường như có vai trò trong cảm giác, đặc biệt là ở các vùng trên cơ thể như lòng bàn tay, lòng bàn chân và cơ quan sinh dục.

– Tế bào Langerhans: tế bào đuôi gai giống đại thực bào. Đây là những tế bào đại diện cho kháng nguyên (vi sinh vật và protein lạ) được tìm thấy trong lớp gai. Chúng là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể và thường xuyên theo dõi các kháng nguyên trong môi trường xung quanh để có thể bẫy chúng và trình bày chúng với tế bào lympho T-helper, do đó kích hoạt phản ứng miễn dịch

Quá trình sừng hóa của lớp biểu bì là một quá trình liên tục. Các tế bào cần thiết cho sự đổi mới liên tục này đến từ lớp cơ bản nơi diễn ra quá trình phân chia tế bào. Vì quá trình này rất nhạy cảm với bức xạ , có các sắc tố trong lớp mầm tạo ra một lớp bảo vệ da sẫm màu hơn khi tiếp xúc với ánh nắng mạnh.

Mặt khác, lớp sừng rất mỏng ở những nơi cần độ mềm dẻo cao hơn, chẳng hạn như trên mí mắt. Ở những nơi tiếp xúc với căng thẳng cơ học, như lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân, nó dày hơn và có thể hình thành vết chai. Sự hình thành các vết chai là một cơ chế bảo vệ. Ngay sau khi các tác động giảm xuống, sự hình thành các lớp dày hơn sẽ dừng lại.

2.Lớp hạ bì

Hạ bì, lớp tiếp theo của da, là một lớp mô sợi dày và đàn hồi (được tạo ra chủ yếu từ collagen, với một thành phần nhỏ nhưng quan trọng là elastin) mang lại cho da sự dẻo dai và khỏe mạnh. Lớp hạ bì chứa các đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi và tuyến dầu (tuyến bã nhờn), nang lông và mạch máu.

Các đầu dây thần kinh cảm nhận cảm giác đau, xúc giác, áp lực và nhiệt độ. Một số vùng da chứa nhiều đầu dây thần kinh hơn những vùng khác. Ví dụ, các đầu ngón tay và ngón chân chứa nhiều dây thần kinh và cực kỳ nhạy cảm khi chạm vào.

Các tuyến mồ hôi tiết ra mồ hôi để phản ứng với nhiệt và căng thẳng. Mồ hôi bao gồm nước, muối và các hóa chất khác. Khi mồ hôi bốc hơi khỏi da, nó sẽ giúp làm mát cơ thể. Các tuyến mồ hôi chuyên biệt ở nách và vùng sinh dục (tuyến mồ hôi apocrine) tiết ra mồ hôi dầu, đặc, tạo ra mùi cơ thể đặc trưng khi mồ hôi được tiêu hóa bởi vi khuẩn da ở những vùng đó.

Các tuyến bã nhờn tiết ra chất nhờn vào nang lông. Bã nhờn là một loại dầu giữ cho da ẩm và mềm mại và hoạt động như một hàng rào chống lại các chất lạ.

Các nang tóc tạo ra nhiều loại tóc khác nhau trên khắp cơ thể. Tóc không chỉ góp phần tạo nên vẻ ngoài của một người mà còn có một số vai trò quan trọng về thể chất, bao gồm điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, bảo vệ khỏi tổn thương và tăng cường cảm giác. Một phần của nang cũng chứa các tế bào gốc có khả năng mọc lại các lớp biểu bì bị tổn thương.

Các mạch máu của lớp hạ bì cung cấp chất dinh dưỡng cho da và giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Nhiệt làm cho các mạch máu nở ra (giãn ra), cho phép một lượng lớn máu lưu thông gần bề mặt da, nơi có thể giải phóng nhiệt. Lạnh làm cho các mạch máu thu hẹp (co lại), giữ nhiệt cho cơ thể.

Ở các bộ phận khác nhau của cơ thể, số lượng các đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn, nang lông và mạch máu khác nhau. Ví dụ, đỉnh đầu có nhiều nang lông, trong khi lòng bàn chân không có.

Lớp mỡ

Bên dưới lớp hạ bì là một lớp chất béo giúp cách nhiệt cơ thể khỏi nhiệt và lạnh, tạo lớp đệm bảo vệ và đóng vai trò như một khu vực dự trữ năng lượng. Chất béo được chứa trong các tế bào sống, được gọi là tế bào mỡ, được tổ chức với nhau bằng mô sợi. Lớp mỡ có độ dày khác nhau, từ một phần inch trên mí mắt đến vài inch trên bụng và mông ở một số người.

Kết cấu

Lớp tế bào đáy (Basal Cell Layer)

Tế bào đáy có thể được coi là ‘tế bào gốc’ của lớp biểu bì. Chúng là những tế bào chưa biệt hóa, đang tăng sinh. Các tế bào con từ lớp tế bào đáy di chuyển lên trên và bắt đầu quá trình biệt hóa. Ở da bình thường, quá trình phân chia tế bào không diễn ra ở trên lớp tế bào đáy. Mất khoảng 2 tuần để các tế bào di chuyển từ lớp tế bào đáy lên trên cùng của lớp tế bào hạt, và thêm 2 tuần nữa để các tế bào vượt qua lớp sừng để lên bề mặt, nơi cuối cùng chúng bị rơi ra. Tổn thương và viêm nhiễm làm tăng tốc độ tăng sinh và trưởng thành (Hình 2.1).

Lớp gai (Stratum Spinosum)

Lớp này nằm trên lớp đáy và được cấu tạo bởi các tế bào sừng, phân biệt với các tế bào đáy bên dưới chúng. Tế bào sừng tạo ra keratin, một loại protein dạng sợi là thành phần chính của lớp sừng.

Lớp gai có tên gọi từ các ‘gai’, hoặc cầu nối gian bào, kéo dài giữa các tế bào sừng và có thể nhìn thấy bằng kính hiển vi ánh sáng. Về mặt siêu cấu

trúc gồm các desmosomes, là những phần kéo dài từ keratin bên trong tế bào sừng; về mặt chức năng, chúng giữ các tế bào lại với nhau (Hình 2.2).

Quá trình sừng hóa bắt đầu từ lớp gai.

Lớp hạt (Stratum Granulosum)

Quá trình biệt hóa tiếp tục trong lớp tế bào hạt, ở đó các tế bào thu nhận thêm keratin và trở nên dẹt hơn. Ngoài ra, chúng chứa các hạt sẫm màu riêng biệt, có thể dễ nhìn thấy trên kính hiển vi, được cấu tạo từ keratohyalin. Keratohyalin chứa hai protein, một trong số đó được gọi là profilaggrin, tiền thân của filaggrin. Như tên gọi của nó, filaggrin đóng một vai trò quan trọng trong việc tập hợp các sợi keratin trong lớp sừng. Protein còn lại được gọi là involucrin (từ tiếng Latinh có nghĩa là ‘phong bì’), và đóng một vai trò trong việc hình thành vỏ tế bào của các tế bào trong lớp sừng. Ichthyosis vulgaris (ichthys, tiếng Hy Lạp có nghĩa là ‘cá’) là một tình trạng da khô di truyền thứ phát do thiếu hụtsản xuất filaggrin, hình ảnh của sinh thiết da trên kính hiển vi cho thấy lớp hạt giảm hoặc không có (Hình 2.3).

Tế bào hạt cũng chứa các hạt dạng phiến, được ghi nhận bằng kính hiển vi điện tử. Các hạt dạng phiến chứa polysaccharide, glycoprotein và lipid nhô vào khoảng gian bào và cuối cùng được cho là giúp hình thành ‘xi măng’giữ các tế bào lớp sừng lại với nhau. Các enzym phân hủy cũng được tìm thấy trong các tế bào hạt; chịu trách nhiệm gây ra sự phá hủy cuối cùng của nhân tế bào và các bào quan trong tế bào chất.

Tế bào hạt chứa keratohyalin và hạt hình phiến.

Lớp sừng (Stratum Corneum)

Một sự chuyển đổi đột ngột đáng kể xảy ra giữa các tế bào còn sống, có nhân ở trên cùng của lớp hạt và các tế bào chết của lớp sừng (Hình 2.4). Các tế bào trong lớp sừng là những tấm dạng phong bì, lớn, phẳng, đa diện, chứa đầy keratin. Chúng được xếp chồng lên nhau thành nhiều lớp theo chiều dọc có độ dày từ 15 đến 25 lớp trên hầu hết các bề mặt cơ thể, có thể đến 100 lớp trên lòng bàn tay và lòng bàn chân. Các tế bào được liên kết với nhau bằng lớp dính giàu lipid theo kiểu như “gạch và vữa”. Các lớp vỏ chứa keratin, gắn kết chặt chẽ trong lớp sừng tạo thành một lớp hầu như không thể xuyên qua, tạo thành hàng rào vật lý chính của da.

Lớp sừng là rào cản vật lý chính.

Biểu bì bao gồm các tế bào phân chia ở lớp tế bào đáy, sừng hóa ở các lớp kế tiếp (tế bào sừng), và cuối cùng trở thành các tế bào chết, chứa đầy chất sừng trong lớp sừng.

Hành Trình Bên Trong Làn Da Của Bạn
Hành Trình Bên Trong Làn Da Của Bạn

Các chức năng chính của da

Đối với cơ thể, da có những chức năng sau:

  • Điều hòa thân nhiệt: Hoạt động của tuyến mồ hôi, hệ thống mạch máu và lớp mô mỡ dưới da giúp điều hòa thân nhiệt cho cơ thể.
  • Tiếp nhận cảm giác: Hệ thống dây trên kinh dưới da sẽ tiếp nhận và giúp ta cảm nhận được những vấn đề bao gồm nóng, lạnh, đau, áp lực, tiếp xúc. Điều này giúp cơ thể thích nghi cũng như tránh được những tác động làm tổn hại cơ thể từ bên ngoài.
  • Bảo vệ cơ thể: Da bao bọc toàn bộ cơ thể, giữ nhiệm vụ như một “hàng rào” bảo vệ các cơ quan khỏi tác động từ bên ngoài bao gồm yếu tố cơ học, hóa học, sinh học,…
  • Chức năng bài tiết: Tuyến mồ hôi dưới da có tác dụng bài tiết chất cặn bã, giúp da mềm mại hơn. Ngoài ra, tuyến bã nhờn có nhiệm vụ như lớp sừng bảo vệ da không bị ngấm nước đồng thời cung cấp khả năng chống lại nấm, vi khuẩn,…
  • Sản xuất melanin cho da: Các huyết sắc tố dưới da melanocytes chịu trách nhiệm sản xuất melanosome sau đó phân phối đến các tế bào khác trong cơ thể giúp bảo vệ tế bào khỏi những tác động từ tia UVA, UVB,…
  • Tái tạo da: Da có khả năng tự phục hồi nhờ quá trình tái tạo tế bào mới sau khi bị tổn thương. Tuy nhiên, càng lớn tuổi, chức năng này càng suy yếu khiến da trở nên nhăn nheo, mất sức sống.
  • Vận chuyển chất dinh dưỡng: Các tế bào mỡ dưới da có tác dụng cung cấp dưỡng chất cần thiết khi cơ thể cần thông qua hệ thống mạch máu.

Da bảo vệ cơ thể khỏi các tác hại từ bên ngoài

Nối tiếp bì – biểu bì – vùng màng đáy

Mặt giao nhau giữa lớp biểu bì và lớp bì được gọi là vùng màng đáy. Dưới kính hiển vi thường, nó được thấy dưới dạng một đường mảnh. Khi kiểm tra bằng kính hiển vi điện tử cho thấy bốn vùng: (1) các sợi keratin trong tế bào sừng lớp đáy gắn vào hemidesmosome(vùng dày đặc electron), từđó gắn vào các sợi neo trong (2) lamina lucida. Lamina lucida là một vùng tương đối sáng đi ngang qua bởi các sợi neo mỏng manh kết nối hemidesmosome của các tế bào đáy với (3) lamina densa; lamina densa là một vùng dày đặc electron gồm chủ yếu là collagen loại IV có nguồn gốc từ các tế bào biểu bì và (4) các sợi neo, là các sợi xơ dày gồm collagen loại VII, và nằm trong vùng sublamina densa của lớp bì nhú. Vùng màng đáy đóng vai trò là ‘keo dính’giữa lớp biểu bì và lớp bì, và là nơi hình thành bóng nước trong nhiều bệnh (Hình 2.6). Do đó, cấu trúc, thành phần và đáp ứng miễn dịch của nó tiếp tục được nghiên cứu mạnh mẽ.

Hiểu về làn da cấu trúc da gồm 3 lớp biểu bì, hạ bì và mô dưới da
Hiểu về làn da cấu trúc da gồm 3 lớp biểu bì, hạ bì và mô dưới da

Chức năng của da

Da có những chức năng gì? Da có bốn chức năng chính:

Chức năng của da: Bảo vệ

Da người có những chức năng gì? Da là tuyến phòng thủ đầu tiên, giúp chống lại môi trường bên ngoài. Lớp biểu bì liên tục bổ sung và loại bỏ hàng chục nghìn tế bào chết để bảo vệ cơ thể khỏi:

  • Tác động cơ học: Da đóng vai trò là hàng rào vật lý đầu tiên giúp chống lại mọi áp lực, tác động hoặc chấn thương. Khi tác động cơ học mạnh lên da, vết thương sẽ xuất hiện.
  • Chất lỏng: Do sự liên kết chặt chẽ của các tế bào ở lớp ngoài cùng biểu bì (lớp sừng), da có khả năng giữ chất lỏng và độ ẩm cần thiết, đồng thời bảo vệ cơ thể khỏi sự hấp thụ chất lỏng bên ngoài. Từ đó, chúng ta có thể tắm, bơi và đi bộ dưới mưa mà không cần lo lắng sự hấp thụ của bất kỳ chất có hại nào hay vấn đề mất nước quá mức qua da.
  • Bức xạ: Hắc sắc tố melanin trong lớp biểu bì giúp chống lại bệnh da liễu như ung thư da. Tuy vậy, để đảm bảo an toàn cho sức khoẻ da, chúng ta nên tránh tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời bằng cách sử dụng kem chống nắng và mặc quần áo phù hợp.
  • Nhiễm trùng: Lớp màng ẩm mỏng trên cùng da giúp ngăn chặn hầu hết các chất hoặc sinh vật lạ (như vi khuẩn, vi rút và nấm) xâm nhập vào da. Lớp biểu bì cũng có các tế bào Langerhans, giúp điều chỉnh các phản ứng miễn dịch đối với mầm bệnh tiếp xúc với da.

Chức năng của da: Điều chỉnh nhiệt

Chức năng của da là giúp điều chỉnh nhiệt cho cơ thể, tuỳ vào điều kiện thời tiết và nhiệt độ bên ngoài:

  • Da điều chỉnh nhiệt độ thông qua các tuyến mồ hôi và mạch máu ở lớp hạ bì.
  • Việc tiết mồ hôi có thể làm giảm nhiệt độ cơ thể.
  • Giãn mạch (giãn các mạch máu nhỏ) ở lớp hạ bì cũng giúp cơ thể hạ nhiệt độ qua da.
  • Trong quá trình co mạch (co các mạch máu nhỏ), lớp hạ bì giữ lại mức nhiệt độ nhất định bên trong cơ thể.
  • Lớp mỡ dưới da còn đóng vai trò như một hàng rào cách nhiệt, giúp cơ thể không bị mất nhiệt và giảm tác động của nhiệt độ lạnh bên ngoài.

Cảm giác

Đây là chức năng của da trên lớp hạ bì. Thông qua các đầu dây thần kinh ở lớp hạ bì, chúng ta cảm nhận được cảm giác nóng, lạnh, áp lực, tiếp xúc và đau khác nhau.

Những cảm giác này trên da đóng vai trò bảo vệ chúng ta khỏi vết thương do bỏng (bỏng độ một và độ hai). Tuy nhiên, trong trường hợp bỏng độ ba, bạn sẽ không cảm thấy đau nữa vì các đầu dây thần kinh trên da đã bị phá hủy.

Chức năng nội tiết

Da là một trong những nguồn cung cấp vitamin D chính của cơ thể thông qua việc sản xuất Cholecalciferol (D3) ở hai lớp dưới cùng của biểu bì (lớp đáy và lớp gai).

Biểu bì: là lớp da ngoài cùng, nó là một hàng rào không thấm nước, có vai trò tạo ra các tế bào da mới, hình thành màu da, bảo vệ cơ thể trước các tác động từ môi trường bên ngoài.

Lớp biểu bì liên tục tạo ra các tế bào da mới, trong khoảng 3 tuần, các tế bào này sẽ nổi lên bề mặt da và thay thế cho các tế bào chết bị bong ra.

Keratinocytes là loại tế bào phổ biến nhất trong biểu bì, hoạt động như một hàng rào chống lại vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, vi rút, nhiệt độ, tia cực tím và ngăn cản sự mất nước qua da.

Lớp biểu bì không chứa mạch máu. Màu da phụ thuộc vào một sắc tố được tạo ra bởi các tế bào hắc tố tên là melanin – bảo vệ da khỏi tác động trực tiếp từ tia UV.

Năm lớp của lớp biểu bì là:

  • Lớp đáy (stratum basale): là lớp trong cùng của biểu bì, nơi các tế bào keratinocyte được tạo ra.
  • Lớp gai (stratum spinosum): các tế bào keratinocytes tạo ra chất sừng (các sợi protein) và trở nên có hình con suốt.
  • Lớp hạt (stratum granulosum): các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và các hạt này di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và các lipid biểu bì.
  • Lớp sáng (stratum lucidum): các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được.
  • Lớp sừng (stratum corneum): là lớp ngoài cùng của biểu bì. Ở những vùng da khác nhau, lớp sừng sẽ có độ dày – mỏng khác nhau, thường thì lớp sừng ở lòng bàn tay, chân sẽ dày hơn những vùng da khác. Mỗi ngày, lớp tế bào sừng phía ngoài bong ra liên tục tạo nên những vảy nhỏ như phấn, kết hợp với mồ hôi và chất bã tạo thành ghét.

Cấu trúc của da, các tầng lớp và vai trò

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa I Lê Thị Thu Hằng – Bác sĩ Da Liễu – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Da là một trong những cơ quan lớn nhất trong cơ thể về diện tích bề mặt và trọng lượng. Da bao gồm hai lớp chính: lớp biểu bì và lớp trung bì. Da có ba chức năng chính: bảo vệ, điều hòa nhiệt độ và cảm giác. Vết thương ảnh hưởng đến tất cả các chức năng của da. Bài viết này giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc của da, các tầng lớp và vai trò của da.

Biểu bì

Những điểm chính

  1. Tế bào sừng là tế bào chính của lớp biểu bì
  2. Các lớp theo thứ tự tăng dần: lớp tế bào đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp sừng
  3. Tế bào đáy là tế bào chưa biệt hóa, đang tăng sinh.
  4. Lớp gai chứa các tế bào sừng được gắn kết bởi các desmosomes
  5. Các hạt keratohyalin được thấy trong lớp hạt
  6. Lớp sừng là hàng rào vật lý chính
  7. Số lượng và kích thước của các melanosome, không phải melanocyte, xác định màu da
  8. Tế bào Langerhans có nguồn gốc từ tủy xương và là tuyến bảo vệ miễn dịch đầu tiên của da
  9. Vùng màng đáy là chất nền để gắn biểu bì với bì
  10. Bốn vùng siêu cấu trúc chính gồm: mảng hemidesmosomal của tế bào sừng lớp đáy, lamina lucida, lamina densa, và các sợi neo nằm ở vùng sublamina densa của lớp bì nhú.

Lớp biểu bì được chia thành bốn lớp, bắt đầu từ phần nối bì với lớp tế bào đáy và kết thúc ở bề mặt ngoài của lớp sừng. Mặt phía bì của biểu bì có đường viền không đều. Các phần nhô xuống dưới được gọi là gờ rete, biểu hiện 3 chiều như một ma trận giống pho mát Thụy Sĩ với các lỗ được lấp đầy bởi các nhú bì hình vòm. Cấu hình này giúp cố định lớp biểu bì vào lớp bì. Mô hình này rõ ràng nhất ở các khu vực chịu ma sát tối đa, như lòng bàn tay và lòng bàn chân.

Các tế bào trong lớp biểu bì trải qua quá trình phân chia và biệt hóa. Sự phân chia tế bào xảy ra ở lớp tế bào đáy và sự biệt hóa ở các lớp bên trên nó.

Sự phân chia tế bào xảy ra ở lớp tế bào đáy.

Bệnh da minh họa cấu trúc và chức năng. Mất hoặc khiếm khuyết trong cấu trúc da làm suy giảm chức năng của da. Bệnh da sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong các chương khác.

BẢNG 2.1 Các chức năng của da

Chức năng Cấu trúc chịu trách nhiệm
Hàng rào Biểu bì
Vật lý Lớp sừng
Màu sắc Tế bào hắc tố
Miễn dịch Tế bào Langerhans
Nền tảng dẻo dai
Điều hòa nhiệt độ Mạch máu

Tuyến mồ hôi eccrine

Cảm giác Dây thần kinh
Nắm chặt Móng tay
Trang trí Tóc
Không xác định Tuyến bã nhờn
Bảo vệ khỏi lạnh và chấn thương Mỡ dưới da
Nơi chứa calo Mỡ dưới da
CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA DA
CẤU TẠO VÀ CHỨC NĂNG CỦA DA

Tóm tắt

Da là một cơ quan lớn, nặng trung bình 4 kg và có diện tích 2 m2. Chức năng chính của nó là hoạt động như một hàng rào chống lại môi trường không thuận lợi – để bảo vệ cơ thể khỏi những ảnh hưởng của thế giới bên ngoài. Tầm quan trọng của da được thể hiện rõ bởi tỷ lệ tử vong cao liên quan đến mất da diện rộng do bỏng.

Hàng rào chính được cung cấp bởi lớp biểu bì. Bên dưới lớp biểu bì là lớp bì có mạch máu cung cấp hỗ trợ và dinh dưỡng cho các tế bào phân chia trong lớp biểu bì. Lớp bì cũng chứa các dây thần kinh và phần phụ: tuyến mồ hôi, nang lông và tuyến bã nhờn. Móng tay cũng được coi là phần phụ của da. Lớp thứ ba và sâu nhất của da là lớp mỡ dưới da. Chức năng của tất cả các thành phần này được liệt kê trong Bảng 2.1.

Các thành phần của da:

  1. Biểu bì
  2. Lớp bì
  3. Các phần phụ của da
  4. Mỡ dưới da

Các tuyến và phần phụ của da

Tuyến bã nhờn

Tuyến bã nhờn nằm ở lớp hạ bì. Chúng được tìm thấy hầu như ở khắp mọi nơi trên cơ thể con người ngoại trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân. Tuyến bã nhờn thường nằm ngay cạnh nang lông. Điều này có nghĩa là tuyến bã nhờn đi vào ống bài tiết của nang lông.

Các tuyến mồ hôi

Có khoảng 2 – 3 triệu tuyến mồ hôi (tuyến eccrine) ở lớp hạ bì của cơ thể con người. Các ống bài tiết của chúng đi theo một con đường quanh co và kết thúc ở các lỗ chân lông trên da. Mồ hôi không chỉ góp phần điều chỉnh nhiệt mà còn bảo vệ da. Độ pH của nó là 5 – 6. Đổ mồ hôi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Ngoài ra còn có những vấn đề tâm lý, chẳng hạn như căng thẳng.

Tuyến mùi

Tuyến mùi (còn được gọi là tuyến mồ hôi apocrine) chủ yếu được tìm thấy ở nách, xung quanh núm vú và trên bộ phận sinh dục. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra một mùi cơ thể đặc trưng của một người, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như mồ hôi và vi khuẩn trên da.

Tóc – cơ quan bảo vệ và xúc giác

Tóc có nhiều chức năng. Nó bảo vệ chống lại cái lạnh và hoạt động như một cơ quan xúc giác quan trọng. Sự phát triển của tóc bắt đầu ở lớp hạ bì, chính xác hơn là ở lớp nhú. Tóc được tạo thành từ các tế bào sừng hóa di chuyển lên trên ra khỏi nang. Mỗi nang có một tuyến bã nhờn liền kề và thường là một tuyến mùi.

Móng – cơ quan bảo vệ và nắm bắt

Móng được tạo thành từ các tế bào sừng hóa cứng, dày đặc ở lớp biểu bì. Nó thực hiện nhiệm vụ quan trọng là có thể cầm nắm các vật nhỏ, tương tự như thao tác dùng nhíp. Nó cũng hoạt động như một lớp bảo vệ quan trọng để bảo vệ các đầu ngón tay và ngón chân của bạn khỏi bị thương. Móng trong mờ, nếu có màu hồng nhạt thì có nghĩa móng tay của bạn được cung cấp máu rất tốt.

Sinh học lớp 8 - Bài 41 -Cấu tạo và chức năng của Da
Sinh học lớp 8 – Bài 41 -Cấu tạo và chức năng của Da

Cấu trúc và vai trò của da

1.Cấu trúc của da

Da được cấu tạo bởi nhiều lớp khác nhau :

  • Biểu bì: chính là lớp da ngoài cùng, biểu bì gồm 5 lớp tế bào: lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng.
  • Trung bì: Bao gồm lớp nhú và lưới
  • Lớp dưới da: bao gồm các mô mỡ. Nó cũng chứa các tiểu thể Vater-Pacini (cơ quan thụ cảm) và các nang lông.

1.Vai trò của da

* Các chức năng chính của da bao gồm:

– Bảo vệ cơ thể chống lại mọi tác nhân bên ngoài như:

+ Cơ, nhiệt, chấn thương vật lý khác

+ Các tác nhân có hại

+ Mất quá nhiều độ ẩm và vitamin

+ Tác hại của bức xạ và tia UV

– Điều hòa nhiệt độ cơ thể: Một trong những chức năng quan trọng của da là bảo vệ cơ thể khỏi lạnh hoặc nóng và duy trì nhiệt độ cơ thể không đổi. Điều này đạt được nhờ sự thay đổi lưu lượng máu qua lớp mạch máu da. Trong thời kỳ ấm áp, các mạch giãn ra, da đỏ lên và hình thành các hạt mồ hôi trên bề mặt (giãn mạch = lưu lượng máu nhiều hơn = mất nhiệt trực tiếp nhiều hơn). Vào thời kỳ lạnh, mạch máu co lại, cản trở nhiệt thoát ra ngoài (co mạch = máu chảy ít hơn = giảm nhiệt mất). Sự bài tiết và bay hơi của mồ hôi từ bề mặt da cũng giúp làm mát cơ thể.

– Cảm nhận những kích thích đau đớn và dễ chịu: Da là cơ quan ‘xúc giác’ kích hoạt phản ứng nếu chúng ta chạm vào hoặc cảm nhận thứ gì đó, bao gồm cả những thứ có thể gây đau. Điều này rất quan trọng đối với những bệnh nhân có bệnh lý về da, vì nhiều người có thể bị đau và ngứa và gây giảm chất lượng cuộc sống.

Ngoài ra da còn có chức năng thẩm mỹ, tạo nên ngoại hình rất quan trọng trong sinh hoạt và giao tiếp hàng ngày.

* Một vài chức năng khác:

– Giám sát miễn dịch học: Da là một cơ quan miễn dịch quan trọng, được tạo thành từ các cấu trúc và tế bào quan trọng. Tùy thuộc vào phản ứng miễn dịch, nhiều loại tế bào và sứ giả hóa học (cytokine) có liên quan.

– Chức năng sinh hóa: Da tham gia vào một số quá trình sinh hóa. Khi có ánh sáng mặt trời, một dạng vitamin D được gọi là cholecalciferol được tổng hợp từ một dẫn xuất của cholesterol steroid trong da. Gan chuyển đổi cholecalciferol thành calcidiol, sau đó được chuyển thành calcitriol (dạng hóa học hoạt động của vitamin) trong thận. Vitamin D cần thiết cho sự hấp thụ bình thường của canxi và phốt pho, cần thiết cho xương khỏe mạnh. Da cũng chứa các thụ thể đối với các hormone steroid khác (oestrogen, progestogen và glucocorticoid) và vitamin A.

– Chức năng xã hội và tính dục: Mọi người đưa ra đánh giá dựa trên những gì họ nhìn thấy và có thể hình thành ấn tượng đầu tiên của họ về một người nào đó dựa trên vẻ ngoài của người đó. Trong suốt lịch sử, mọi người được đánh giá vì làn da của họ, chẳng hạn như do màu sắc hoặc sự hiện diện của tình trạng da hoặc sẹo. Các bác sĩ sẽ đánh giá được nhiều dấu hiệu bệnh tật dựa trên làn da của bạn.

Da lưu giữ các hóa chất và chất dinh dưỡng quan trọng trong cơ thể đồng thời cung cấp hàng rào chống lại các chất nguy hiểm xâm nhập vào cơ thể và bảo vệ khỏi tác hại của bức xạ tia cực tím do mặt trời phát ra. Ngoài ra, màu da, kết cấu và nếp gấp giúp đánh dấu mọi người là cá nhân. Bất cứ điều gì cản trở chức năng của da hoặc gây ra những thay đổi về ngoại hình đều có thể gây ra những hậu quả lớn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần.

Nhiều vấn đề xuất hiện trên da chỉ giới hạn ở da. Tuy nhiên, đôi khi, làn da cung cấp manh mối cho một chứng rối loạn ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Do đó, các bác sĩ thường phải xem xét nhiều bệnh có thể xảy ra khi đánh giá các vấn đề về da. Họ có thể cần phải yêu cầu xét nghiệm máu hoặc các xét nghiệm khác trong phòng thí nghiệm để tìm kiếm bệnh nội khoa ở những người gặp vấn đề về da với họ.

Các thành phần tế bào khác

Ngoài các tế bào đáy và tế bào sừng, hai tế bào khác nằm trong lớp biểu bì: tế bào hắc tố và tế bào Langerhans.

Tế bào hắc tố (Melanocytes)

Tế bào hắc tố là tế bào có đuôi gai, sản xuất sắc tố nằm ở lớp tế bào đáy (Hình 2.4, 2.5). Chúng bảo vệ da khỏi bức xạ tia cực tím. Những người có ít hoặc không có sắc tố sẽ bị tổn thương do ánh nắng mặt trời rõ rệt và nhiều bệnh ung thư da. Các đuôi gai kéo dài vào lớp gai và đóng vai trò như các ống dẫn, qua đó các hạt sắc tố được chuyển đến các tế bào sừng lân cận của chúng. Các hạt này được gọi là melanosome, và sắc tố bên trong là melanin, được tổng hợp từ tyrosine. Melanosome ưu tiên nằm phía trên nhân để bảo vệ DNA.

Con người thuộc mọi chủng tộc đều có số lượng tế bào hắc tố như nhau. Sự khác biệt về sắc tố da phụ thuộc vào (1) số lượng và kích thước của các melanosome và (2) sự phân bố của chúng trong da. Ở da có sắc tố sẫm màu, melanosome có kích thước lớn hơn và nhiều hơn so với melanosome ở da có sắc tố nhạt. Ánh sáng mặt trời kích thích các tế bào hắc tố tăng sản xuất sắc tố và phân tán các melanosome rộng rãi hơn.

Tế bào Langerhans

Tế bào Langerhans là tế bào đuôi gai trong lớp biểu bì có chức năng miễn dịch (Hình 2.4), có nguồn gốc từ tủy xương và chiếm khoảng 5% tế bào trong lớp biểu bì. Kiểm tra bằng kính hiển vi điện tử, có thể thấy các hạt hình “vợt tennis” đặc trưng. Tế bào Langerhans giống hệt với các đại thực bào của mô và trình diện các kháng nguyên cho các tế bào lympho mà chúng tương tác thông qua các thụ thể bề mặt cụ thể. Như vậy, tế bào Langerhans là thành phần quan trọng của hàng rào miễn dịch của da.

Tế bào Langerhans là hàng rào bảo vệ miễn dịch đầu tiên của da.

Tế bào Merkel

Tế bào Merkel nằm ở lớp tế bào đáy. Chúng có nhiều hơn ở lòng bàn tay và lòng bàn chân và được kết nối với các tế bào sừng bằng các desmosome. Các tế bào Merkel hoạt động như các thụ thể cơ học. Ung thư biểu mô tế bào Merkel là một loại ung thư da hiếm gặp với tỷ lệ tử vong cao.

Cấu trúc da và những điều cần biết | Dr Hiếu
Cấu trúc da và những điều cần biết | Dr Hiếu

Phấn phụ da (Skin Appendage)

Những điểm chính

  1. Tuyến eccrine giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể
  2. Tuyến mồ hôi apocrine phụ thuộc vào androgen để phát triển
  3. Các tế bào gốc của nang lông tái tạo lại phần không cố định của nang lông theo chu kỳ
  4. Tuyến bã nhờn chịu sựkiểm soát của androgen 5. Móng, lông được làm bằng chất sừng (keratin)

Các phần phụ của da là tuyến mồ hôi eccrine và apocrine, nang lông, tuyến bã nhờn và móng. Chúng có nguồn gốc từ biểu bì, nhưng ngoại trừ móng, chúng nằm trong lớp bì.

Tuyến mồ hôi eccrine

Đối với những người hoạt động thể chất và những người sống ở vùng khí hậu nóng, tuyến mồ hôi eccrine là phần phụ quan trọng nhất của da về mặt sinh lý. Chúng được kích hoạt bởi các kích thích cảm xúc và nhiệt độ. Hệ cholinergic chịu trách nhiệm cho sự bài tiết eccrine sinh lý. Botulinum toxin A (Botox) tiêm trong da có thể điều trị chứng tăng tiết mồ hôi ở nách bằng cách ngăn chặn hoạt động của acetylcholine. Tuyến mồ hôi eccrine giúp điều hòa nhiệt độ cơ thể bằng cách bài tiết mồ hôi lên bề mặt da, từ đó diễn ra quá trình bay hơi nước làm mát. Hai đến ba triệu tuyến mồ hôi eccrine phân bố trên toàn bộ bề mặt cơ thể, với tổng khả năng bài tiết là 10 L mồ hôi mỗi ngày. Bộ phận bài tiết của tuyến mồ hôi là một ống cuộn nằm sâu trong lớp bì. Mồ hôi được vận chuyển qua lớp bì bằng một ống dẫn mồ hôi xuyên qua lớp biểu bì (Hình 2.11). Mồ hôi tiết ra ở phần tuyến là đẳng trương với huyết tương nhưng trở nên nhược trương khi nó thoát ra khỏi da do tái hấp thu chất điện giải ở ống tuyến. Do đó, tuyến mồ hôi tương tự như cơ chế ở thận, nghĩa là bài tiết tuyến (cầu thận) sau đó là tái hấp thu ở ống.

Các tuyến mồ hôi eccrine giúp điều hòa nhiệt độ và chịu sự chi phối của hệ cholinergic.

Tuyến mồ hôi apocrine

Ở người, các tuyến mồ hôi apocrine phụ thuộc vào androgen để phát triển và không có chức năng hữu ích nào được biết đến, mặc dù chúng chịu trách nhiệm tạo ra mùi cơ thể. Mùi cơ thể thực sự là kết quả của tác động của vi khuẩn trên bề mặt da với mồ hôi apocrine được bài tiết, bản thân nó không có mùi. Các tuyến mồ hôi apocrine nằm chủ yếu ở vùng nách và vùng sinh dục. Đoạn bài tiết của tuyến apocrine cũng là một ống cuộn nằm sâu trong lớp bì. Tuy nhiên, không giống như ở các tuyến eccrine, trong đó các tế bào tiết vẫn còn nguyên vẹn, ở các tuyến apocrine, các tế bào tiết ‘cắt bỏ’ phần đỉnh của chúng như là một phần của sản phẩm bài tiết (Hình 2.11). Sau đó, ống tuyến apocrine dẫn mồ hôi đã tiết đổ vào phần giữa của nang lông, từ đó mồ hôi cuối cùng sẽ đến bề mặt da.

Hoạt động của vi khuẩn trên mồ hôi apocrine gây ra mùi cơ thể.

Nang lông (Hair Follicle)

Ở hầu hết các loài động vật có vú, lông có chức năng bảo vệ, nhưng ở người, lông chủ yếu là để trang trí.

Các nang lông phân bố trên toàn bộ bề mặt cơ thể, trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân. Lông có hai kích cỡ: (1) lông tơ, ngắn, mịn, sáng màu và ít thấy rõ; và (2) lông trưởng thành dày hơn, dài hơn và sẫm màu hơn loại lông tơ. Lông trưởng thành ở một số vị trí bị ảnh hưởng bởi hormon và không xuất hiện cho đến tuổi dậy thì, ví dụ: râu ở nam giới, lông mu và lông nách ở cả hai giới.

Các loại lông:

  1. Lông tơ (vellus hair) sáng và mảnh
  2. Lông trưởng thành (terminal hair) tối và dày

Một nang lông có thể được xem như một khoang đặc biệt của biểu bì (Hình 2.11), với một quần thể tế bào ở phía dưới (củ lông) đang tái tạo thậm chí còn tích cực hơn các tếbào đáy biểu bì bình thường. Những tế bào này tạo thành chất nền lông. Cũng như các tế bào đáy trong lớp biểu bì, các tế bào nền đầu tiên phân chia và sau đó biệt hóa, cuối cùng tạo thành một sợilông có chất sừng. Melanocytestrong chất nền đóng góp sắc tố, với số lượng xác định màu tóc. Khi các tế bào chất nền tiếp tục phân chia, lông được đẩy ra ngoài và thoát ra ngoài qua lớp biểu bì với tốc độ khoảng 1 cm mỗi tháng. Sự phát triển của lông trong một nang lông riêng lẻ là theo chu kỳ, với giai đoạn tăng trưởng (anagen), giai đoạn chuyển tiếp (catagen) và giai đoạn nghỉ ngơi (telogen). Độ dài của các giai đoạn thay đổi từ vùng này sang vùng khác của cơ thể. Ví dụ, trên da đầu, giai đoạn anagen kéo dài khoảng 3 năm, giai đoạn catagen khoảng 3 tuần và giai đoạn telogen khoảng 3 tháng. Độ dài của giai đoạn anagen thay đổi tùy theo từng cá nhân, giải thích tại sao một số người có thể mọc tóc dài hơn những người khác.

Chu kỳ phát triển của lông thông qua các giai đoạn tăng trưởng (anagen), chuyển tiếp (catagen) và nghỉ ngơi (telogen).

Vào cuối giai đoạn anagen, quá trình tăng trưởng dừng lại và nang lông bước vào giai đoạn catagen và telogen, trong đó phần chất nền và 2/3 dưới của nang lông teo lại và lông trong nang bị rụng. Sau đó, thông qua sự tương tác giữa trung mô với các tế bào gốc của nang lông, một chất nền lông mới được hình thành ở đáy nang lông và chu kỳ được lặp lại (Hình 2.12). Vào bất kỳ thời điểm nào, 80– 90% tóc trên da đầu ở giai đoạn anagen và 10–20% ở giai đoạn telogen, do đó tỷ lệ rụng bình thường là từ 25 đến 100 sợi tóc mỗi ngày.

Thông thường, 25–100 sợi tóc bị rụng khỏi da đầu mỗi ngày.

Như trong Hình 2.11, nang lông nằm ở lớp bì với một góc nghiêng. Cơ dựng lông đính kèm không được hiển thị. Khi cơ này co lại, lông sẽ mọc thẳng đứng, khiến da trông giống như da ngỗng. Các tế bào gốc của nang lông nằm ở khu vực ‘túi phình’ của nang lông, nơi mà cơ dựng lông chèn vào nang lông. Các tế bào gốc rất quan trọng để tái tạo lại phần không cố định của nang lông theo chu kỳ.

Tuyến bã nhờn (Sebaceous Gland)

Các tuyến bã nhờn tạo ra một chất dầu được gọi là bã nhờn (sebum), chức năng của nó vẫn chưa được biết rõ. Trên thực tế, da của trẻ em và da lòng bàn tay và lòng bàn chân của người lớn hoạt động tốt mà không cần bã nhờn.

Tuyến bã nhờn là một phần của đơn vị nang lông tuyến bã và do đó được tìm thấy ở bất cứ nơi nào có nang lông. Ngoài ra, các tuyến bã nhờn lạc chỗ thường được tìm thấy trên niêm mạc, hình thành các sẩn nhỏ màu vàng gọi là Fordyce spot. Ở da, tuyến bã nổi bật nhất trên da đầu và mặt, và trung bình ở vùng thân trên. Kích thước và hoạt động bài tiết của các tuyến này chịu sự kiểm soát của androgen. Các tuyến bã nhờn ở trẻ sơ sinh to ra do hormon của mẹ, nhưng trong vòng vài tháng, các tuyến này sẽ co lại (Hình 2.13). Chúng to trở lại ở tuổi trước vị thành niên do kích thích bởi các androgen tuyến thượng thận và đạt kích thước đầy đủ ở tuổi dậy thì, khi các androgen tuyến sinh dục được sản xuất.

Tuyến bã nhờn phụ thuộc androgen.

Các tế bào chứa nhiều lipid trong các tuyến bã nhờn được tiết ra hoàn toàn (bài tiết holocrine) để tạo thành bã nhờn. Triglyceride chiếm phần lớn lipid được tìm thấy trong các tế bào tuyến bã nhờn. Từ cáctuyến bãnhờn, bã nhờn đổvào nang lông (Hình 2.11), từ đó thoát ra trên bề mặt da.

Móng (Nail)

Móng, giống như tóc, được làm bằng chất sừng, được hình thành từ một chất nền của các các tế bào biểu bì phân chia (Hình 2.14). Tuy nhiên, móng cứng, phẳng và nằm song song với bề mặt da. Nằm ở đầu ngón tay và ngón chân, chúng tạo điều kiện thuận lợi cho các thao tác nắm và kẹp.

Móng được làm bằng chất sừng được sản xuất trong chất nền.

Phiến móng là một cấu trúc cứng, trong mờ, gồm chất sừng, có độ dày từ 0,3 đến 0,65 mm.

Móng tay mọc với tốc độ liên tục khoảng 0,1 mm/ngày và móng chân với tốc độ chậm hơn một chút.

Bốn vùng biểu mô được liên kết với móng:

  1. Nếp gấp móng gần giúp bảo vệ chất nền. Lớp sừng được tạo ra ở đó tạo thành lớp biểu bì.
  2. Chất nền tạo ra phiến móng từ các tế bào phân chianhanh chóng,sừng hóacủanó. Hầu hết chất nền nằm dưới nếp gấp móng gần nhất, nhưng trên một số ngón (đặc biệt là ngón tay cái), nó kéo dàidưới phiếnmóng, nơi nó có thểnhìn thấy rõ dưới dạng lunula màu trắng. Phần gần nhất của chất nền tạo thành đỉnh của phiến móng; phần xa nhất tạo thành đáy của phiến móng (Hình 2.15).
  3. Biểu mô của giường móng tạo ra một lượng chất sừng tối thiểu, chất này sẽ bám chặt vào đáy của phiến móng. Màu hồng của móng là do mạch máu ở lớp bì của giường móng.
  4. Lớp biểu bì của hyponychium làm nền cho bờ xa tự do của phiến móng. Lớp sừng được tạo ra ở đó tạo thành một lớp biểu bì để bịt kín phần tiếp giáp của giường móng và phiến móng.

Muốn da khỏe mạnh, cần làm gì?

Sau khi đã biết da có mấy lớp thì bạn cần thay đổi chế độ chăm sóc phù hợp nhằm giúp da săn chắc và khỏe mạnh hơn. Để da luôn khỏe mạnh, bạn cần chú ý một số vấn đề sau:

Chăm sóc da một cách khoa học

Để làn da luôn khỏe mạnh, đầy sức sống, bạn cần xây dựng một chế độ dinh dưỡng lành mạnh, đầy đủ dưỡng chất, đặc biệt là bổ sung thực phẩm giàu vitamin và chất khoáng đồng thời rèn luyện thân thể mỗi ngày, uống nhiều nước. Cách này không chỉ tốt cho da mà còn tăng cường sức khỏe hệ miễn dịch, giúp tăng khả năng bảo vệ da, cơ thể trước các tác nhân gây bệnh từ bên ngoài.

Áp dụng quy trình chăm sóc da đúng cách

Mỗi loại da khác nhau và tùy cơ địa từng người mà quy trình chăm sóc da có thể thay đổi. Tuy nhiên, bạn cần chú ý sử dụng các loại mỹ phẩm phù hợp theo tình trạng da đồng thời không rửa mặt với nước nóng và nên ưu tiên nước mát hoặc nước ấm. Thông thường, quy trình chăm sóc da sẽ gồm các bước theo tuần tự là tẩy trang, rửa mặt, tẩy da chết (1 – 2 lần/tuần), toner hoặc lotion, serum trị mụn, dưỡng ẩm, dưỡng da mắt và cuối cùng không thể thiết là bôi kem chống nắng kể cả những ngày trời âm u.

Trên đây là những chia sẻ về vấn đề da có mấy lớp để giúp bạn có thêm thông tin hữu ích. Nếu bạn thấy da xuất hiện các triệu chứng bất thường như nổi mẩn đỏ, phát ban, viêm nhiễm, lở loét, nổi mụn, thâm, nám, tàn nhanh,… thì có thể tìm đến bác sĩ da liễu hoặc chuyên gia để kiểm tra tình trạng và tư vấn biện pháp chăm sóc, điều trị phù hợp.

Chăm sóc da mỗi ngày để giúp da luôn khỏe mạnh, săn chắc

Quý khách hàng nếu có vấn đề gì liên quan đến tình trạng sức khỏe hoặc bệnh lý về da, hãy liên hệ ngay với bác sĩ chuyên khoa tại các cơ sở thuộc Hệ thống Y tế MEDLATEC qua tổng đài: 1900 56 56 56 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc.

Tế bào - Đơn vị cấu trúc và chức năng của sự sống
Tế bào – Đơn vị cấu trúc và chức năng của sự sống

Các bài viết liên quan

  1. Chỉ số BMI của người cao tuổi bao nhiêu là lý tưởng?
  2. Xét nghiệm chỉ số sức khỏe gồm những gì và ý nghĩa của từng chỉ số
  3. Địa chỉ khám đông y ở đâu uy tín?
  4. Axit folic có trong thực phẩm nào? Cần lưu ý gì khi sử dụng axit folic?
  5. Nên đưa trẻ đi khám tự kỷ ở đâu tại Hà Nội?
  6. Các bệnh viện khám tiêu hóa tốt nhất ở Hà Nội
  7. Chụp CT sỏi thận giúp chẩn đoán bệnh gì? Đối tượng nào cần đi chụp CT sỏi thận?
  8. Thay van tim ở bệnh viện nào tốt nhất?
  9. Khám da liễu ở đâu tốt? Gợi ý top bệnh viện khám da liễu tốt ở TP.HCM
  10. Địa chỉ khám chấn thương thể thao uy tín tại TP.HCM

Tin tức

Da có mấy lớp? Chức năng của da là gì?

  • 24/07/2023 | Hướng dẫn chăm sóc các loại da mặt đúng cách
  • 07/09/2023 | Cấu trúc da mặt và da toàn thân khác nhau như thế nào?

Lớp bì

Những điểm chính

  1. Cung cấp tính toàn vẹn về cấu trúc và có hoạt động sinh học
  2. Các thành phần chính của chất nền lớp bì là collagen, elastin và chất nền ngoại bào
  3. Collagen là thành phần chính của lớp bì và chiếm 70% trọng lượng khô của da

Lớp bì là một cấu trúcnâng đỡ, chắc nhưng đàn hồi, chứa các mạch máu, dây thần kinh và các phần phụ của da. Nó cung cấp tính toàn vẹn về cấu trúc và hoạt động sinh học bằng cách tương tác và điều chỉnh các chức năng của tế bào (tái tạo mô). Lớp bì có độ dày từ 1 đến 4 mm, dày hơn nhiều so với lớp biểu bì, mà ở hầu hết các vị trí chỉ dày bằng mảnh giấy (Hình 2.7). Chất nền lớp bì được cấu tạo chủ yếu từ các sợi collagen (thành phần chính), sợi elastin và chất nền (được gọi là chất nền ngoài sợi), được tổng hợp bởi nguyên bào sợi lớp bì. Collagen chiếm 70% trọng lượng khô của da. Collagen và các sợi elastin là các protein dạng sợi tạo thành khung chất nền chắc nhưng mềm mại. Ở phần trên cùng của lớp bì (bì nhú), các sợi collagen được sắp xếp lỏng lẻo và mịn. Ở phần còn lại của lớp bì (bì lưới), các sợi dày và mật độ dày đặc (Hình 2.8). Cácsợi elastin nằmchủ yếu ởlớp bì lưới, nơi chúng mỏng hơn và sắp xếp lỏng lẻo hơn các sợi collagen. Chất nền ngoài sợi lấp đầy khoảng trống giữa các sợi. Nó là một vật liệu không dạng sợi được tạo thành từ một số phân tử mucopolysaccharide khác nhau, được gọi chung là proteoglycan hoặc glycosaminoglycan. Chất nền ngoài sợi làm cho lớp bì tăng tính chất lỏng hơn, tạo điều kiện cho sự di chuyển của chất lỏng, phân tử và tế bào viêm.

Các thành phần cấu trúc của lớp bì:

  1. Collagen
  2. Sợi elastin
  3. Chất nền ngoài sợi

Các dây thần kinh và mạch máu đi qua lớp bì, và một lớp mỡ dưới da nằm bên dưới nó (Hình 2.9).

Các đầu dây thần kinh tự do là các thụ thể cảm giác quan trọng nhất.

Dây thần kinh

Da là một thụ thể cảm giác chính. Không có cảm giác chạm, nhiệt và đau, cuộc sống sẽ kém thú vị và nguy hiểm hơn. Cảm giác được phát hiện trên da bởi cả hai đầu dây thần kinh tự do và các thụ thể phức tạp hơn có cấu trúc tiểu thể. Các đầu dây thần kinh tự do phân bố rộng hơn và có vẻ quan trọng hơn. Nguồn cung cấp thần kinh của da là phân đoạn da, với sự chồng chéo đáng kể giữa các phân đoạn (Hình 2.10).

Mạch máu

Các mạch máu trong da phục vụ hai chức năng: dinh dưỡng và điều hoà nhiệt độ. Lớp biểu bì không có nguồn cung cấp máu nội tại và do đó phụ thuộc vào sự khuếch tán của chất dinh dưỡng và oxy từ các mạch máu trong lớp bì nhú. Các mạch máu trong lớp bì cũng cung cấp cho mô liên kết và các cấu trúc phần phụ nằm trong đó.

Chức năng của mạch máu:

  1. Cung cấp dinh dưỡng
  2. Điều hòa nhiệt độ

Mạch máu của da được sắp xếp thành hai đám rối nằm ngang liên kết với nhau. Đám rối nông nằm ở bờ dưới của lớp bì nhú và đám rối sâu nằm ở lớp bì lưới. Điều hoà nhiệt độ đạt được thông qua các ống dẫn giữa các đám rối. Lưu lượng máu tăng lên ở đám rối nông cho phép thoát nhiệt, trong khi sự chuyển hướng dòng máu đến đám rối sâu giúp giữ nhiệt.

Hành Trình Bên Trong Bộ Não
Hành Trình Bên Trong Bộ Não

Các tuyến của da

– Tuyến bã nhờn: Tuyến bã nhờn nằm ở lớp hạ bì. Chúng có thể được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi trên cơ thể con người, ngoại trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân. Thông thường, tuyến bã nhờn nằm ngay cạnh nang lông. Điều này có nghĩa là một tuyến bã nhờn hòa vào ống bài tiết của nang lông. Phần tiếp giáp này không tồn tại trên mắt và mí mắt, cũng không tồn tại trên môi, dương vật hoặc môi âm hộ. Bản thân bã nhờn bao gồm:

+ Chất đạm

Ráy tai (cerumen) cũng là một sản phẩm từ tuyến bã nhờn. Bã nhờn chống thấm nước và bôi trơn tóc và da.

– Các tuyến mồ hôi: Cơ thể con người có khoảng 2-3 triệu tuyến mồ hôi (tuyến eccrine), nằm ở lớp hạ bì. Các ống bài tiết của chúng đi theo một con đường quanh co, kết thúc ở các lỗ chân lông trên da. Chúng được tìm thấy chủ yếu ở nách, lòng bàn chân và lòng bàn tay. Mồ hôi không chỉ góp phần điều chỉnh nhiệt độ mà còn có vai trò bảo vệ da. Giá trị pH của nó là 5–6. Sự sản xuất mồ hôi bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; trong số những người khác là những người tâm lý như căng thẳng.

– Tuyến mùi: Các tuyến mùi (còn được gọi là tuyến mồ hôi apocrine) nằm hầu hết ở nách, xung quanh núm vú và ở bộ phận sinh dục. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra mùi cơ thể duy nhất của một người, mùi này còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, chẳng hạn như mồ hôi hoặc vi khuẩn trên da.

Phần phụ của da

Tóc và móng tay cũng được coi là một phần của da, tức là hệ thống liên kết. Như vậy, chúng được gọi là phần phụ của da.

4.Tóc – cơ quan bảo vệ và xúc giác

Tóc có nhiều chức năng khác nhau. Nó đóng vai trò bảo vệ chống lại cái lạnh và như một cơ quan xúc giác quan trọng.

Sự phát triển của tóc bắt đầu ở lớp hạ bì, cụ thể hơn là ở lớp nhú tóc. Lông bao gồm các tế bào sừng hóa nổi lên và di chuyển lên bên trong nang lông. Khi sợi tóc trồi lên khỏi bề mặt da, nó sẽ làm như vậy ở một góc hơi nghiêng. Đối với mỗi nang lông, có một tuyến bã nhờn liền kề và thường là một tuyến mùi.

Tóc có thể dựng lên nhờ hoạt động của cơ bắp, đó là điều sẽ xảy ra khi bạn bị ‘rùng mình dọc sống lưng’. Đó là một chức năng rất lâu đời của cơ thể con người mà không thể thay đổi trong tình trạng ‘nổi da gà’ (cutis anserina). Hơn nữa, các sợi thần kinh có trong tóc khiến tóc rất dễ bị chạm vào nhau.

Sự phát triển của lông: Ở trẻ sơ sinh, toàn bộ cơ thể được bao phủ bởi một lớp lông rất mịn gọi là lông vellus. Trong độ tuổi dậy thì, lông đầu bắt đầu mọc, dày hơn nhiều và chủ yếu ở một số vùng trên cơ thể, chẳng hạn như vùng sinh dục hoặc mặt (râu). Phần còn lại của lông trên cơ thể ít rõ rệt hơn và 4% bề mặt da không được bao phủ bởi lông bao gồm:

+ Lòng bàn tay

+ Lòng bàn chân

+ Móng tay

+ Móng chân

+ Môi

Những phần không có lông này của da được gọi là da băng, trái ngược với da có lông.

Tóc mọc thêm khoảng 1cm mỗi tháng. Chu kỳ sinh trưởng được chia thành 3 giai đoạn.

– Giai đoạn 1 kéo dài 2–10 năm. Nó được gọi là giai đoạn tăng trưởng hoặc giai đoạn anagen.

– Giai đoạn 2 kéo dài khoảng 2 tuần. Nó được gọi là giai đoạn chuyển tiếp hoặc giai đoạn catagen.

– Giai đoạn 3 kéo dài khoảng 3–8 tháng. Nó được gọi là giai đoạn nghỉ ngơi hoặc giai đoạn telogen .

Các giai đoạn này được xác định đối với một nang tóc trải qua chu kỳ này lên đến 10 lần. Sau đó, nó không hình thành bất kỳ sợi lông nào nữa. Một người khỏe mạnh mất tới 100 sợi tóc mỗi ngày.

4.Móng tay – cơ quan bảo vệ và nắm bắt

Móng tay được tạo ra từ các tế bào sừng hóa cứng và dày đặc của lớp biểu bì . Chúng hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng là có thể cầm nắm các vật nhỏ, tương tự như hoạt động của nhíp. Hơn nữa, chúng đóng vai trò như một lớp bảo vệ quan trọng của các đầu ngón tay và ngón chân trước các chấn thương. Móng tay trong mờ. Màu hồng nhẹ nhàng chiếu qua là móng tay được cung cấp máu rất tốt.

Phần cuối của móng hình lưỡi liềm màu trắng (về phía cơ thể) được gọi là lunula (‘mặt trăng nhỏ’). Ở đây, màu trắng thực tế của móng có thể được đánh giá cao vì móng không trong suốt ở phần này. Giữa gai và da, có một lớp bảo vệ được gọi là lớp biểu bì, ngăn vi trùng xâm nhập. Phía sau lớp biểu bì (về phía thân) có gốc móng tay. Nó tạo thành các tế bào sừng hóa đẩy móng về phía trước. Móng tay mọc nhanh hơn móng chân. Tốc độ phát triển điển hình của móng tay là 1 mm mỗi tuần; móng chân mọc thêm 0,5 mm mỗi tuần.

Cấu trúc của móng:

– Tấm móng tay: bề mặt của tuyến bã nhờn

– Lớp móng: liên tục với các lớp basale và spinosum

– Gốc móng tay: bao phủ vùng nảy mầm hoặc chất nền

– Eponychium (lớp biểu bì)

– Hyponychium

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Nguồn tham khảo: merckmanuals.com, byjus.com, nursingtimes.net

Da có cấu tạo như thế nào? Chức năng của da đối với cơ thể là gì?

  • Mặc định

  • Lớn hơn

Da là cơ quan lớn nhất của cơ thể và hoạt động như tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại sự xâm nhập của các chất độc hại từ bên ngoài. Ngoài ra, da đóng vai trò quan trọng không chỉ trong quá trình điều nhiệt mà còn trong quá trình tổng hợp vitamin D trong cơ thể. Vậy da có cấu tạo như thế nào để thực hiện chức năng của nó?

Da được cấu tạo bởi hai lớp chính là biểu bì và trung bì. Da có ba chức năng chính: Bảo vệ, điều nhiệt và cảm nhận. Các vết thương ảnh hưởng đến tất cả các chức năng của da. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn da có cấu tạo như thế nào và vai trò của da.

[Hài Tết 2024] CHUYỆN CỦA MỖI NHÀ - XUÂN BẮC x TỰ LONG | Hài Tết Mới Nhất
[Hài Tết 2024] CHUYỆN CỦA MỖI NHÀ – XUÂN BẮC x TỰ LONG | Hài Tết Mới Nhất

Tìm hiểu cụ thể về các tầng lớp của da

Lớp biểu bì

Biểu bì là lớp ngoài cùng của da và được định nghĩa là một biểu mô vảy phân tầng được cấu tạo chủ yếu bởi các tế bào sừng trong giai đoạn biệt hóa. Tế bào sừng sản xuất ra chất sừng protein và là thành phần chính của lớp biểu bì. Vì lớp biểu bì không có mạch máu nên việc phân phối các chất dinh dưỡng và chất thải qua màng đáy hoàn toàn phụ thuộc vào lớp hạ bì bên dưới.

Chức năng chính của lớp biểu bì là hoạt động như một hàng rào vật lý và sinh học đối với môi trường bên ngoài, ngăn chặn sự xâm nhập của các chất kích ứng và dị ứng. Đồng thời, nó ngăn ngừa mất nước và duy trì cân bằng nội môi.

Tế bào da bao gồm:

  • Tế bào sừng tạo ra keratin, một loại protein dạng sợi dai. Tế bào sừng được hình thành do sự phân chia ở lớp đáy. Giữa các tế bào sừng này là một hỗn hợp phức tạp của lipid và protein. Các lipid gian bào bị phân hủy bởi các enzyme của tế bào sừng để tạo ra một hỗn hợp lipid gồm ceramide (phospholipid), axit béo và cholesterol. Các phân tử này được sắp xếp có tổ chức cao và liên kết với nhau và với các tế bào sừng để tạo thành hàng rào lipid của da chống lại sự mất nước và sự xâm nhập của các chất gây dị ứng và kích ứng.
  • Tế bào hắc tố: Những tế bào này tạo ra sắc tố da sẫm màu. Tế bào hắc tố nằm ở tầng đáy và nằm rải rác giữa các tế bào sừng dọc theo màng đáy với tỷ lệ 1 tế bào hắc tố trên 10 tế bào đáy. Chúng tạo ra sắc tố melanin, được tạo ra từ tyrosine, một axit amin được đóng gói trong các túi tế bào gọi là melanosomes và được các tế bào sừng vận chuyển và phân phối vào tế bào chất. Chức năng chính của melanin là hấp thụ bức xạ tia UV và bảo vệ chúng ta khỏi tác hại của bức xạ.

Màu da được xác định bởi số lượng và kích thước của các melanosome, không phải bởi số lượng tế bào hắc tố. Nó bị ảnh hưởng bởi một số sắc tố như melanin, carotene và hemoglobin. Melanin được chuyển đến các tế bào sừng thông qua các melanosome. Do đó, màu da phụ thuộc vào lượng melanin do tế bào hắc tố cơ bản tạo ra và do tế bào sừng tiếp nhận. Màu da cũng bị ảnh hưởng bởi sự tiếp xúc với tia cực tím, yếu tố di truyền và ảnh hưởng của nội tiết tố.

  • Tế bào Merkel: Những tế bào này hiện diện với số lượng rất ít. Chúng liên kết chặt chẽ với các đầu dây thần kinh trên da và có vẻ liên quan đến cảm giác, đặc biệt là ở các vùng trên cơ thể như lòng bàn tay, lòng bàn chân và bộ phận sinh dục.
  • Tế bào Langerhans: Tế bào đuôi gai giống đại thực bào. Đây là những tế bào đại diện kháng nguyên (vi sinh vật và protein lạ) được tìm thấy trong lớp tế bài gai. Chúng là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể và liên tục theo dõi các kháng nguyên trong môi trường, bắt giữ chúng và trình diện chúng với các tế bào lympho T để kích hoạt phản ứng miễn dịch.

Lớp hạ bì

Lớp tiếp theo của da, hạ bì, là một lớp mô sợi dày và đàn hồi (chủ yếu là collagen với một thành phần nhỏ nhưng quan trọng là elastin) mang lại cho làn da sự mềm mại và săn chắc. Lớp hạ bì chứa các đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn, nang lông và mạch máu.

  • Các đầu dây thần kinh cảm nhận được cảm giác đau, xúc giác, áp lực và nhiệt độ. Một số vùng da chứa nhiều đầu dây thần kinh hơn những vùng khác. Ví dụ, các đầu ngón tay, bàn chân có nhiều dây thần kinh và rất nhạy cảm khi chạm vào.
  • Các tuyến mồ hôi tiết ra mồ hôi để phản ứng với nhiệt và căng thẳng. Mồ hôi được tạo thành từ nước, muối và các hóa chất khác. Khi mồ hôi bốc hơi từ da, nó sẽ giúp làm mát cơ thể.
  • Tuyến bã nhờn tiết ra chất nhờn vào nang lông. Bã nhờn là chất dầu giữ cho da ẩm, mềm mại và hoạt động như một rào chắn chống lại các chất lạ.
  • Các nang tóc tạo ra các loại tóc khác nhau trên khắp cơ thể. Tóc không chỉ góp phần tạo nên vẻ ngoài của một người mà còn có nhiều chức năng quan trọng của cơ thể như điều chỉnh nhiệt, bảo vệ khỏi tổn thương và tăng cường cảm giác. Một phần của nang tóc còn chứa các tế bào gốc có khả năng tái tạo lớp biểu bì khi bị tổn thương.
  • Các mạch máu nuôi dưỡng da và giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Nhiệt làm giãn nở các mạch máu, cho phép nhiều máu lưu thông hơn gần bề mặt da, nơi nhiệt được tỏa ra. Lạnh làm cho các mạch máu co lại (thu hẹp), giúp làm ấm cơ thể.

Các bộ phận khác nhau của cơ thể có số lượng đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi, tuyến bã nhờn, nang lông và mạch máu khác nhau. Ví dụ, đỉnh đầu có nhiều nang lông, nhưng lòng bàn chân thì không.

Lớp mỡ dưới da

Bên dưới lớp hạ bì là một lớp chất béo bảo vệ cơ thể khỏi nhiệt và lạnh, tạo lớp đệm bảo vệ và hoạt động như một kho năng lượng. Chất béo được chứa trong các tế bào sống gọi là tế bào mỡ, được tổ chức với nhau bằng mô sợi. Độ dày của lớp mỡ có thể thay đổi từ vài milimet trên mí mắt đến vài inch trên bụng và mông.

Da có cấu tạo như thế nào?

Da được cấu thành từ nhiều lớp khác nhau:

  • Biểu bì: Là lớp ngoài cùng của da, biểu bì lại được cấu tạo bởi 5 lớp tế bào: Lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng.
  • Trung bì: Gồm lớp nhú và lớp mô lưới.
  • Lớp dưới da: Được cấu tạo bởi các mô mỡ. Nó cũng chứa các cơ quan thụ cảm Vater – Pacini và các nang lông.
Nhà báo Vũ Công Lập: Bí mật lời chúc Tết | Lời cổ nhân dặn lại
Nhà báo Vũ Công Lập: Bí mật lời chúc Tết | Lời cổ nhân dặn lại

Keywords searched by users: cấu tạo chức năng của da

Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da Bạn Nên Biết
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da Bạn Nên Biết
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
Cấu Tạo Da | Sgk Sinh Lớp 8
Cấu Tạo Da | Sgk Sinh Lớp 8
Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Da Có Cấu Tạo Như Thế Nào? Chức Năng Của Da Đối Với Cơ Thể Là Gì? - Nhà  Thuốc Fpt Long Châu
Da Có Cấu Tạo Như Thế Nào? Chức Năng Của Da Đối Với Cơ Thể Là Gì? – Nhà Thuốc Fpt Long Châu
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Bvntp
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Bvntp
Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da. Câu Hỏi 1669374 - Hoidap247.Com
Trình Bày Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da. Câu Hỏi 1669374 – Hoidap247.Com
Giải Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Giải Sinh Học 8 Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da
Giáo Án Ptnl Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Giáo Án Phát Triển Năng  Lực Sinh Học 8 - Tech12H
Giáo Án Ptnl Bài 41: Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Giáo Án Phát Triển Năng Lực Sinh Học 8 – Tech12H
Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Làn Da - Phần 1 - Vivita Beauty
Tìm Hiểu Về Cấu Trúc Và Chức Năng Của Làn Da – Phần 1 – Vivita Beauty
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da - Những Loại Vi Khuẩn Phổ Biến Thường Phát  Triển Trên Da - Fcare
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da – Những Loại Vi Khuẩn Phổ Biến Thường Phát Triển Trên Da – Fcare
Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da - Sinh Học 8 - Nguyễn Thị Mai - Thư  Viện Bài Giảng Điện Tử
Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da – Sinh Học 8 – Nguyễn Thị Mai – Thư Viện Bài Giảng Điện Tử
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da - Bài 41 - Sinh Học 8 - Cô Mạc Phạm Đan Ly (Hay  Nhất) - Youtube
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da – Bài 41 – Sinh Học 8 – Cô Mạc Phạm Đan Ly (Hay Nhất) – Youtube
Da Có Những Chức Năng Gì? Đặc Điểm Nào Của Da Giúp Da Thực Hiện Được Chức  Năng Bảo Vệ? | Sgk Sinh Lớp 8
Da Có Những Chức Năng Gì? Đặc Điểm Nào Của Da Giúp Da Thực Hiện Được Chức Năng Bảo Vệ? | Sgk Sinh Lớp 8
Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl'S
Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl’S
Quan Sát Hình 36.1, Nêu Tên Các Lớp Cấu Tạo Của Da Và Chức Năng Của Mỗi Lớp Cấu  Tạo Theo Mẫu Sau:
Quan Sát Hình 36.1, Nêu Tên Các Lớp Cấu Tạo Của Da Và Chức Năng Của Mỗi Lớp Cấu Tạo Theo Mẫu Sau:
Cấu Trúc Của Da – Zakka Naturals
Cấu Trúc Của Da – Zakka Naturals
Cấu Tạo Da Của Chó – Những Điều Chủ Nuôi Cần Biết – Pethealth
Cấu Tạo Da Của Chó – Những Điều Chủ Nuôi Cần Biết – Pethealth
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da - Sinh Học 8 - Giáo Viên Việt Nam
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da – Sinh Học 8 – Giáo Viên Việt Nam
Quan Sát Hình 36.1, Nêu Tên Các Lớp Cấu Tạo Của Da Và Chức Năng Của Mỗi Lớp Cấu  Tạo Theo Mẫu Sau
Quan Sát Hình 36.1, Nêu Tên Các Lớp Cấu Tạo Của Da Và Chức Năng Của Mỗi Lớp Cấu Tạo Theo Mẫu Sau
Nhận Biết Ngay Chức Năng Và Cấu Tạo Của Da - Bệnh Học 4 Phương
Nhận Biết Ngay Chức Năng Và Cấu Tạo Của Da – Bệnh Học 4 Phương
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Làn Da
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Làn Da
Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da - Hoc24
Bài 41. Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da – Hoc24

See more here: sixsensesspa.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *