Chuyển tới nội dung
Home » Giải Phẫu Cấu Trúc Da | Giai Phâu Da Mặt Và Da Đầu

Giải Phẫu Cấu Trúc Da | Giai Phâu Da Mặt Và Da Đầu

Hiểu về làn da cấu trúc da gồm 3 lớp biểu bì, hạ bì và mô dưới da

Cấu trúc và vai trò của da

1.Cấu trúc của da

Da được cấu tạo bởi nhiều lớp khác nhau :

  • Biểu bì: chính là lớp da ngoài cùng, biểu bì gồm 5 lớp tế bào: lớp đáy, lớp gai, lớp hạt, lớp bóng và lớp sừng.
  • Trung bì: Bao gồm lớp nhú và lưới
  • Lớp dưới da: bao gồm các mô mỡ. Nó cũng chứa các tiểu thể Vater-Pacini (cơ quan thụ cảm) và các nang lông.

1.Vai trò của da

* Các chức năng chính của da bao gồm:

– Bảo vệ cơ thể chống lại mọi tác nhân bên ngoài như:

+ Cơ, nhiệt, chấn thương vật lý khác

+ Các tác nhân có hại

+ Mất quá nhiều độ ẩm và vitamin

+ Tác hại của bức xạ và tia UV

– Điều hòa nhiệt độ cơ thể: Một trong những chức năng quan trọng của da là bảo vệ cơ thể khỏi lạnh hoặc nóng và duy trì nhiệt độ cơ thể không đổi. Điều này đạt được nhờ sự thay đổi lưu lượng máu qua lớp mạch máu da. Trong thời kỳ ấm áp, các mạch giãn ra, da đỏ lên và hình thành các hạt mồ hôi trên bề mặt (giãn mạch = lưu lượng máu nhiều hơn = mất nhiệt trực tiếp nhiều hơn). Vào thời kỳ lạnh, mạch máu co lại, cản trở nhiệt thoát ra ngoài (co mạch = máu chảy ít hơn = giảm nhiệt mất). Sự bài tiết và bay hơi của mồ hôi từ bề mặt da cũng giúp làm mát cơ thể.

– Cảm nhận những kích thích đau đớn và dễ chịu: Da là cơ quan ‘xúc giác’ kích hoạt phản ứng nếu chúng ta chạm vào hoặc cảm nhận thứ gì đó, bao gồm cả những thứ có thể gây đau. Điều này rất quan trọng đối với những bệnh nhân có bệnh lý về da, vì nhiều người có thể bị đau và ngứa và gây giảm chất lượng cuộc sống.

Ngoài ra da còn có chức năng thẩm mỹ, tạo nên ngoại hình rất quan trọng trong sinh hoạt và giao tiếp hàng ngày.

* Một vài chức năng khác:

– Giám sát miễn dịch học: Da là một cơ quan miễn dịch quan trọng, được tạo thành từ các cấu trúc và tế bào quan trọng. Tùy thuộc vào phản ứng miễn dịch, nhiều loại tế bào và sứ giả hóa học (cytokine) có liên quan.

– Chức năng sinh hóa: Da tham gia vào một số quá trình sinh hóa. Khi có ánh sáng mặt trời, một dạng vitamin D được gọi là cholecalciferol được tổng hợp từ một dẫn xuất của cholesterol steroid trong da. Gan chuyển đổi cholecalciferol thành calcidiol, sau đó được chuyển thành calcitriol (dạng hóa học hoạt động của vitamin) trong thận. Vitamin D cần thiết cho sự hấp thụ bình thường của canxi và phốt pho, cần thiết cho xương khỏe mạnh. Da cũng chứa các thụ thể đối với các hormone steroid khác (oestrogen, progestogen và glucocorticoid) và vitamin A.

– Chức năng xã hội và tính dục: Mọi người đưa ra đánh giá dựa trên những gì họ nhìn thấy và có thể hình thành ấn tượng đầu tiên của họ về một người nào đó dựa trên vẻ ngoài của người đó. Trong suốt lịch sử, mọi người được đánh giá vì làn da của họ, chẳng hạn như do màu sắc hoặc sự hiện diện của tình trạng da hoặc sẹo. Các bác sĩ sẽ đánh giá được nhiều dấu hiệu bệnh tật dựa trên làn da của bạn.

Da lưu giữ các hóa chất và chất dinh dưỡng quan trọng trong cơ thể đồng thời cung cấp hàng rào chống lại các chất nguy hiểm xâm nhập vào cơ thể và bảo vệ khỏi tác hại của bức xạ tia cực tím do mặt trời phát ra. Ngoài ra, màu da, kết cấu và nếp gấp giúp đánh dấu mọi người là cá nhân. Bất cứ điều gì cản trở chức năng của da hoặc gây ra những thay đổi về ngoại hình đều có thể gây ra những hậu quả lớn đối với sức khỏe thể chất và tinh thần.

Nhiều vấn đề xuất hiện trên da chỉ giới hạn ở da. Tuy nhiên, đôi khi, làn da cung cấp manh mối cho một chứng rối loạn ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Do đó, các bác sĩ thường phải xem xét nhiều bệnh có thể xảy ra khi đánh giá các vấn đề về da. Họ có thể cần phải yêu cầu xét nghiệm máu hoặc các xét nghiệm khác trong phòng thí nghiệm để tìm kiếm bệnh nội khoa ở những người gặp vấn đề về da với họ.

Các tuyến của da

– Tuyến bã nhờn: Tuyến bã nhờn nằm ở lớp hạ bì. Chúng có thể được tìm thấy ở hầu hết mọi nơi trên cơ thể con người, ngoại trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân. Thông thường, tuyến bã nhờn nằm ngay cạnh nang lông. Điều này có nghĩa là một tuyến bã nhờn hòa vào ống bài tiết của nang lông. Phần tiếp giáp này không tồn tại trên mắt và mí mắt, cũng không tồn tại trên môi, dương vật hoặc môi âm hộ. Bản thân bã nhờn bao gồm:

+ Chất đạm

Ráy tai (cerumen) cũng là một sản phẩm từ tuyến bã nhờn. Bã nhờn chống thấm nước và bôi trơn tóc và da.

– Các tuyến mồ hôi: Cơ thể con người có khoảng 2-3 triệu tuyến mồ hôi (tuyến eccrine), nằm ở lớp hạ bì. Các ống bài tiết của chúng đi theo một con đường quanh co, kết thúc ở các lỗ chân lông trên da. Chúng được tìm thấy chủ yếu ở nách, lòng bàn chân và lòng bàn tay. Mồ hôi không chỉ góp phần điều chỉnh nhiệt độ mà còn có vai trò bảo vệ da. Giá trị pH của nó là 5–6. Sự sản xuất mồ hôi bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố; trong số những người khác là những người tâm lý như căng thẳng.

– Tuyến mùi: Các tuyến mùi (còn được gọi là tuyến mồ hôi apocrine) nằm hầu hết ở nách, xung quanh núm vú và ở bộ phận sinh dục. Chúng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra mùi cơ thể duy nhất của một người, mùi này còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác, chẳng hạn như mồ hôi hoặc vi khuẩn trên da.

Hiểu về làn da cấu trúc da gồm 3 lớp biểu bì, hạ bì và mô dưới da
Hiểu về làn da cấu trúc da gồm 3 lớp biểu bì, hạ bì và mô dưới da

Phần phụ của da

Tóc và móng tay cũng được coi là một phần của da, tức là hệ thống liên kết. Như vậy, chúng được gọi là phần phụ của da.

4.Tóc – cơ quan bảo vệ và xúc giác

Tóc có nhiều chức năng khác nhau. Nó đóng vai trò bảo vệ chống lại cái lạnh và như một cơ quan xúc giác quan trọng.

Sự phát triển của tóc bắt đầu ở lớp hạ bì, cụ thể hơn là ở lớp nhú tóc. Lông bao gồm các tế bào sừng hóa nổi lên và di chuyển lên bên trong nang lông. Khi sợi tóc trồi lên khỏi bề mặt da, nó sẽ làm như vậy ở một góc hơi nghiêng. Đối với mỗi nang lông, có một tuyến bã nhờn liền kề và thường là một tuyến mùi.

Tóc có thể dựng lên nhờ hoạt động của cơ bắp, đó là điều sẽ xảy ra khi bạn bị ‘rùng mình dọc sống lưng’. Đó là một chức năng rất lâu đời của cơ thể con người mà không thể thay đổi trong tình trạng ‘nổi da gà’ (cutis anserina). Hơn nữa, các sợi thần kinh có trong tóc khiến tóc rất dễ bị chạm vào nhau.

Sự phát triển của lông: Ở trẻ sơ sinh, toàn bộ cơ thể được bao phủ bởi một lớp lông rất mịn gọi là lông vellus. Trong độ tuổi dậy thì, lông đầu bắt đầu mọc, dày hơn nhiều và chủ yếu ở một số vùng trên cơ thể, chẳng hạn như vùng sinh dục hoặc mặt (râu). Phần còn lại của lông trên cơ thể ít rõ rệt hơn và 4% bề mặt da không được bao phủ bởi lông bao gồm:

+ Lòng bàn tay

+ Lòng bàn chân

+ Móng tay

+ Móng chân

+ Môi

Những phần không có lông này của da được gọi là da băng, trái ngược với da có lông.

Tóc mọc thêm khoảng 1cm mỗi tháng. Chu kỳ sinh trưởng được chia thành 3 giai đoạn.

– Giai đoạn 1 kéo dài 2–10 năm. Nó được gọi là giai đoạn tăng trưởng hoặc giai đoạn anagen.

– Giai đoạn 2 kéo dài khoảng 2 tuần. Nó được gọi là giai đoạn chuyển tiếp hoặc giai đoạn catagen.

– Giai đoạn 3 kéo dài khoảng 3–8 tháng. Nó được gọi là giai đoạn nghỉ ngơi hoặc giai đoạn telogen .

Các giai đoạn này được xác định đối với một nang tóc trải qua chu kỳ này lên đến 10 lần. Sau đó, nó không hình thành bất kỳ sợi lông nào nữa. Một người khỏe mạnh mất tới 100 sợi tóc mỗi ngày.

4.Móng tay – cơ quan bảo vệ và nắm bắt

Móng tay được tạo ra từ các tế bào sừng hóa cứng và dày đặc của lớp biểu bì . Chúng hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng là có thể cầm nắm các vật nhỏ, tương tự như hoạt động của nhíp. Hơn nữa, chúng đóng vai trò như một lớp bảo vệ quan trọng của các đầu ngón tay và ngón chân trước các chấn thương. Móng tay trong mờ. Màu hồng nhẹ nhàng chiếu qua là móng tay được cung cấp máu rất tốt.

Phần cuối của móng hình lưỡi liềm màu trắng (về phía cơ thể) được gọi là lunula (‘mặt trăng nhỏ’). Ở đây, màu trắng thực tế của móng có thể được đánh giá cao vì móng không trong suốt ở phần này. Giữa gai và da, có một lớp bảo vệ được gọi là lớp biểu bì, ngăn vi trùng xâm nhập. Phía sau lớp biểu bì (về phía thân) có gốc móng tay. Nó tạo thành các tế bào sừng hóa đẩy móng về phía trước. Móng tay mọc nhanh hơn móng chân. Tốc độ phát triển điển hình của móng tay là 1 mm mỗi tuần; móng chân mọc thêm 0,5 mm mỗi tuần.

Cấu trúc của móng:

– Tấm móng tay: bề mặt của tuyến bã nhờn

– Lớp móng: liên tục với các lớp basale và spinosum

– Gốc móng tay: bao phủ vùng nảy mầm hoặc chất nền

– Eponychium (lớp biểu bì)

– Hyponychium

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

Nguồn tham khảo: merckmanuals.com, byjus.com, nursingtimes.net

Biểu bì: là lớp da ngoài cùng, nó là một hàng rào không thấm nước, có vai trò tạo ra các tế bào da mới, hình thành màu da, bảo vệ cơ thể trước các tác động từ môi trường bên ngoài.

Lớp biểu bì liên tục tạo ra các tế bào da mới, trong khoảng 3 tuần, các tế bào này sẽ nổi lên bề mặt da và thay thế cho các tế bào chết bị bong ra.

Keratinocytes là loại tế bào phổ biến nhất trong biểu bì, hoạt động như một hàng rào chống lại vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm, vi rút, nhiệt độ, tia cực tím và ngăn cản sự mất nước qua da.

Lớp biểu bì không chứa mạch máu. Màu da phụ thuộc vào một sắc tố được tạo ra bởi các tế bào hắc tố tên là melanin – bảo vệ da khỏi tác động trực tiếp từ tia UV.

Năm lớp của lớp biểu bì là:

  • Lớp đáy (stratum basale): là lớp trong cùng của biểu bì, nơi các tế bào keratinocyte được tạo ra.
  • Lớp gai (stratum spinosum): các tế bào keratinocytes tạo ra chất sừng (các sợi protein) và trở nên có hình con suốt.
  • Lớp hạt (stratum granulosum): các tế bào sản sinh ra các hạt nhỏ và các hạt này di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và các lipid biểu bì.
  • Lớp sáng (stratum lucidum): các tế bào bị ép nhẹ, trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được.
  • Lớp sừng (stratum corneum): là lớp ngoài cùng của biểu bì. Ở những vùng da khác nhau, lớp sừng sẽ có độ dày – mỏng khác nhau, thường thì lớp sừng ở lòng bàn tay, chân sẽ dày hơn những vùng da khác. Mỗi ngày, lớp tế bào sừng phía ngoài bong ra liên tục tạo nên những vảy nhỏ như phấn, kết hợp với mồ hôi và chất bã tạo thành ghét.

Tìm hiểu về cấu trúc da để có một làn da đẹp tự nhiên

Làn da đẹp là làn da toàn vẹn về cả cấu trúc da và chức năng của các thành phần cấu thành. Chuyên viên thẩm mỹ khi thực hiện các thủ thuật tái tạo, trẻ hóa làn da cần nắm bắt nhiều hơn các dữ liệu cập nhật về sinh lý và giải phẫu làn da.

Chức năng và cấu trúc da

Cấu trúc làn da

Da gồm 3 thành phần chính: lớp biểu bì, lớp trung bì và lớp hạ bì. Mỗi lớp được cấu thành, hoạt động nhịp nhàng nhờ sự phối hợp, định hướng của các tế bào, sợi và những cấu trúc vô định hình khác.

Lớp biểu bì là lớp trên cùng của da, bao gồm các biểu mô vảy sừng phân tầng. Làn da người thường có khoảng 50 lớp tế bào ở những vùng da mỏng và có thể lên đến 100 lớp ở những vị trí dày hơn của cơ thể. Độ dày trung bình khoảng 0,1-1mm tùy từng vùng da và có tiềm năng tái sinh và thay thế cao khi bị tổn thương. Da người có tình acid nhẹ và được coi là lớp vỏ acid của da giúp da tránh được những tác động bất lợi từ vi khuẩn, nấm, giúp duy trì lớp keratin được kết nối chặt chẽ. Nếu bề mặt da bị kiềm hóa thì sẽ làm các sợi keratin trở nên mềm và kém bền vững, mất đi tác dụng bảo vệ, dễ bị nhiễm trùng, nhạy cảm hơn với tia cực tím, trở nên khô, kích ứng và dễ bị bong da.

Lớp trung bì nằm giữa lớp biểu bì và hạ bì được kết nối với nhau thông qua một cấu trúc sợi có khả năng di động tương đối. Độ dày của lớp trung bì có thể dao động, trung bình từ 0,5-4mm. Lớp trung bì có các thành phần vô định hình tại gian bào gồm một mạng lưới cấu trúc sợi và tế bào. Lớp trung bì có khả năng giữ nước cao cho các sợi collagen. Chúng cũng đóng vai trò quan trọng trong duy trì độ ẩm cho lớp biểu bì giúp cho da căng và mịn. Ngoài ra lớp trung bì còn có chức năng điều hòa thân nhiệt thông qua thay đổi tuần hoàn máu và tiết mồ hôi, bảo vệ cơ học cho các cấu trúc sâu hơn của da nữa đó.

Lớp hạ bì có cấu trúc như miếng bọt biển gồm: sợi collagen, elestin, tế bào mỡ, mạch máu, mạch bạch huyết, tế bào thần kinh. Bề mặt lớp mô mỡ được nối với lớp trung bì đến lớp hạ bì. Vì vậy nguyên nhân của nếp nhăn và nếp gấp trên da là do sự suy giảm về số lượng và chất lượng của các sợi collagen. Chức năng chính của lớp hạ bì là cung cấp năng lượng, giữ ấm cho cơ thể, bảo vệ khỏi những chấn động, tổn thương. Ngoài ra lớp hạ bì còn sản xuất hormon và dự trữ dưỡng chất như các loại vitamin tan trong dầu A, D, E estrogen để làn da đẹp tự nhiên hơn.

Ngoài những thành phần chính là 3 lớp biểu bì, trung bì, hạ bì thì da vẫn còn những thành phần phụ khác như tuyến bã nhờn, tuyến mồ hôi, lông, móng. Mỗi thành phần lại mang một nhiệm vụ khác nhau giúp cho cấu trúc da người được bền chặt, hoạt động trơn tru hơn.

Chức năng của làn da

Da người là bộ phận tiếp xúc với môi trường nhiều nhất trong cơ thể, nó không chỉ là vỏ bọc bên ngoài cơ thể mà còn đảm nhiệm nhiều chức năng

Đầu tiên da có tác dụng bảo vệ cơ thể khỏi những tác động bất lợi từ môi trường như vật lý, sinh học, hóa học. Do là bộ phận tiếp xúc trực tiếp với môi trường nên da đảm nhiệm chức năng bảo vệ, hấp thu, bài tiết đồng thời có khả năng dự trữ, cảm giác, điều hòa thân nhiệt. Ngoài ra, da cũng liên hệ mật thiết với các hệ cơ quan khác trong cơ thể, là nơi phản ánh tình trạng của các cơ quan bên trong.

BÀI 14 - LÝ THUYẾT MÔ PHÔI - DA & CÁC CẤU TRÚC PHỤ
BÀI 14 – LÝ THUYẾT MÔ PHÔI – DA & CÁC CẤU TRÚC PHỤ

Da có mấy lớp?

Thứ tự các lớp của da từ ngoài vào trong lần lượt như sau:

  • Lớp biểu bì

Biểu bì chính là lớp da ngoài cùng ta có thể nhìn và sờ được, chúng có tác dụng bảo vệ cơ thể, tránh vi khuẩn xâm nhập từ môi trường bên ngoài. Lớp biểu bì được bao phủ bởi nước và lipid (chất nhũ tương). Màng hydrolipid này có tác dụng duy trì tiết mồ hôi, bã nhờn để da mềm mại, chống lại vi khuẩn và nấm từ bên ngoài.

Trong biểu bì có 5 lớp tế bào, chúng phát triển và thay đổi thường xuyên hay còn gọi là quá trình sừng hóa, vì vậy mỗi lớp tầng biểu bì có sự khác nhau. Cụ thể: Lớp đáy nằm trong cùng của biểu bì, đây là nơi các tế bào keratinocyte được sản sinh; lớp tế bào gai có tác dụng sản sinh chất sừng; lớp hạt là nơi quá trình sừng hóa bắt đầu, các tế bào sản sinh ra hạt nhỏ, chúng di chuyển lên trên, biến đổi thành chất sừng và lipid biểu bì; lớp bóng bị các tế bào ép nhẹ khiến chúng trở nên bằng phẳng và không thể phân biệt được; lớp sừng là nơi cư trú của tuyến mồ hôi và bã nhờn, được gắn kết bởi các lipid biểu bì, tạo nên hàng rào để bảo vệ và giúp làn da khỏe mạnh.

  • Lớp hạ bì (lớp mô mạch liên kết)

Lớp hạ bì dày, có tính đàn hồi, nằm giữa biểu bì và mô dưới da. Cấu trúc chính để tạo nên lớp hạ bì là sợi collagen, đàn hồi và các mô liên kết, chúng giúp cho làn da khỏe mạnh, linh hoạt. Các cấu trúc này gắn chặt với 1 chất giống như gel (chứa axit hyaluronic), có hiệu quả cao trong việc liên kết với phân tử nước giúp duy trì thể tích của da.

Hạ bì bao gồm lớp đáy và lưới, chúng giúp giảm sự tác động từ bên ngoài và làm lành vết thương, giúp nuôi dưỡng biểu bì, loại bỏ chất thải.

  • Mô dưới da

Là 1 trong các lớp của da, mô dưới da là thành phần nằm trong cùng, có chức năng tạo ra năng lượng của cơ thể, hoạt động giống như 1 tấm đệm để cách nhiệt. Lớp mô dưới da bao gồm mỡ (gắn kết lại với nhau như 1 lớp đệm bảo vệ); các sợi collagen (giữ các tế bào chất béo gắn kết lại với nhau) và các mạch máu. Tuy nhiên, số lượng các tế bào chất béo của mô dưới da khác nhau ở mỗi vùng trên cơ thể.

Chức năng các lớp của da

  • Điều chỉnh thân nhiệt

Khi nhiệt độ cao, các lớp của da xuất hiện mồ hôi để giúp làm mát cơ thể và thu nhỏ hệ thống mạch máu ở hạ bì để giữ nhiệt.

  • Tiếp nhận cảm giác

Da tiếp nhận cảm giác giúp ta ý thức được nóng, lạnh, đau, áp lực, tiếp xúc. Cảm giác này được phát hiện bởi các dây thần kinh ở lớp hạ bì. Nhờ có chức năng cảm giác mà cơ thể thích nghi được với ngoại cảnh và tránh các tác động tiêu cực từ những tác nhân bên ngoài.

Tuy nhiên, với những tổn thương quá mức trên da có thể làm ảnh hưởng tới chức năng cảm giác. Ví dụ, nếu bị bỏng nhẹ mức độ 1 và 2 sẽ có cảm giác rất đau, nhưng với mức độ 3 thì da sẽ mất cảm giác vì các dây thần kinh đã bị phá hủy.

  • Sự tái tạo da

Ngoài những chức năng trên, da còn có khả năng phục hồi các vết thương.

  • Nguồn thức ăn

Các tế bào chất béo ở mô dưới da có tác dụng cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng. Khi cơ thể cần, những chất này sẽ được di chuyển đến các mạch máu và đưa đến nơi cần thiết.

Ngoài ra, da cũng đóng 1 vai trò quan trọng về vấn đề tâm lý. Tình trạng da sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta và người khác cảm thấy về bản thân mình. Khi làn da khỏe mạnh và không có bất kì vấn đề gì thì sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy thoải mái, tự tin hơn.

Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.

GIAI PHÂU DA MẶT VÀ DA ĐẦU

DA ĐẦU:

Da đầu cấu tạo bởi năm lớp, trong đó ba lớp đầu liên kết chặt chẽ với nhau

(hình 1 – 1 ) :

Da

Tổ chức liên kết dày đặc

Mạc trên sọ

Tổ chức liên kết lỏng lẻo

Màng xương

Thuật từ da đầu tiếng Anh (SCALP) là hình thức viết tắt các chữ cái đầu tiên của năm lớp cấu tạo thành da đầu :

S : Skin

C : Connective tissue

A : Aponeurosis

L : Loose connective tissue

P : Periosteum

Lớp đầu tiên là lớp da, chứa nhiều nang tóc và tuyến bã. Lơp da đầu dính chặt vào lớp thứ hai bên dưới.

Lớp thứ hai cấu tạo bởi tổ chức liên kết dày đặc. Trong lớp thứ hai này có nhiều mạch máu và thần kinh. Do cấu trúc lớp này là tổ chức liên kết dày đặc, nó giữ chặt các thành mạch máu nên da đầu chảy máu rất khó cầm với những loại kẹp cầm máu thông thường. Để cầm máu cần có loại kẹp cầm máu đặc biệt (kẹp Raney) để kẹp toàn bộ lớp da mới có thể cầm máu được. Trên thực tế lâm sàng, chúng tôi nhận thấy, khi chích thuốc tê có epinephrine để cầm máu, nên chích vào đúng ngay lớp thứ hai này mới giúp hạn chế chảy máu trong khi phẫu thuật. Khi chích thuốc tê vào lớp thứ hai lưu ý là chúng ta sẽ có cảm giác nặng tay do chích vào lớp mô liên kết dày đặc.

Lớp thứ ba là mạc trên sọ, đây là một màng cân rất chắc, nối bụng chẩm và bụng trán cơ chẩm trán. vết thương da đầu sẽ không bị hở nếu chưa cắt ngang lớp này. Khi khâu đóng da đầu, nên khâu 2 lớp trong đó lớp dưới da phải khâu lớp mạc trên sọ để tránh sẹo dãn sau này.

Lớp thứ tư là lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo, ít mạch máu. Các tĩnh mạch liên lạc nối các xoang tĩnh mạch nội sọ với tĩnh mạch da đầu xuyên qua vùng này. Do sự hiện diện của các tĩnh mạch liên lạc, lớp mô liên kết lỏng lẻo được xem là vùng nguy hiểm của da đầu. Trong chấn thương, máu và dịch có thể chảy lan nhanh chóng trong lớp này gây phù nề dạng bãi lầy (boglike edema), đồng thời cũng dễ dàng lan xuống tổ

chức liên kết quanh hốc mắt gây nên dấu hiệu thâm tím mi mắt. Do vậy, một trường hợp chấn thương sọ não có xuất huyết, máu có thể qua những tĩnh mạch liên lạc vào lớp tổ chức liên kết lỏng lẻo rồi tiếp tục lan xuống tổ chức liên kết quanh hốc mắt gây thâm tím mi mắt tương tự những chấn thương tại chỗ quanh hốc mắt. Khi phẫu thuật lật vạt da đầu, chúng ta thường đi trong lớp này do tách bóc dễ dàng.

Lớp cuối cùng là màng xương, dính chặt vào mặt ngoài xương sọ. Trong phẫu thuật chỉ nên rạch màng xương khi đã đến ổ gãy hoặc khi lấy bản ngoài xương sọ để sử dụng trong phẫu thuật tạo hình. Sau khi phẫu thuật lưu ý phải khâu đóng lớp màng xương.

Thần kinh chi phối cảm giác da đầu xuất phát từ thần kinh sinh ba và đám rối cổ nông. Vùng da đầu phía trước và bên do thần kinh Vi, nhánh của thần kinh sinh ba chi phối và vùng da đầu phía sau do nhánh nông đám rối cổ C2 , C3 chi phối. Nếu tách bóc trong lớp mô liên kết lỏng lẻo sẽ hoàn toàn tránh được các nhánh này. Tại bờ trên ổ mắt, nhánh bờ trên ổ mắt sẽ đi qua khuyết trên ổ mắt hoặc lỗ trên ổ mắt chi phối cảm giác da vùng trán. Thần kinh trên ròng rọc nằm ngay phía trong thần kinh trên ổ mắt chi phối mi trên và vùng trán phía trong. Tại vùng này cần cẩn thận khi xử trí các vết thương nhằm tránh tổn thương các thần kinh trên ròng rọc và trên ổ mắt.

Trong da đầu còn có nhánh thái dương thần kinh VII chi phối vận động các cơ chẩm trán, cơ thái dương đỉnh. Nhánh thái dương đi ngay trên cân nông cơ thái dương. Trong phẫu thuật nắn hở xương gò má sử dụng đường rạch vòng da đầu (coronal

incision) cần phải tránh nhánh này. Kỹ thuật tránh nhánh thái dương sẽ đuợc mô tả chi tiết trong phần điều trị.

DA MẶT

về phương diện giải phẫu, da mặt có những đặc điểm cần lưu ý:

Các nếp nhăn da và đường Langer.

Cấu trúc da vùng mắt và mũi.

Vùng mặt cấu tạo bởi các cơ bám da mặt nhằm mục đích biểu cảm. Những cơ này một đầu bám vào xương và đầu còn lại tỏa vào da. Do đặc điểm trên, da mặt có những nếp nhăn da vuông góc với hướng các cơ bám da mặt (hình 1 – 2). Ở người càng lớn tuổi, những nếp nhăn da sẽ càng rõ. Trong chấn thương hàm mặt trường hợp những vết rách trùng với các nếp nhăn da, kết quả sẽ thẩm mỹ hơn những vết rách không trùng với nếp nhăn da. Các đường rạch phẫu thuật cũng dựa trên nguyên tắc này để phác họa và lựa chọn đường rạch.

Đường Langer là những đường băng ngang đường da tự nhiên và nếp nhăn da. Những đường này biểu thị hướng sợi collagen bên trong da vùng mặt. Những sẹo da mặt song song đường Langer sẽ rất dễ nhìn thấy.

Da vùng mi mắt có cấu trúc đặc biệt, hoàn toàn khác với các vùng khác. Nó cấu tạo bởi hai cấu trúc phiến (hình 1 – 3):

Phiến ngoài gồm da ở phía trên và dưới là cơ vòng mi

Phiến trong gồm sụn mi và kết mạc mi.

Da mi mắt rất mỏng, chứa những tuyến lệ nhỏ, tuyến mồ hôi và tuyến bã cũng như những nang lông rất nhỏ.

Da vùng mũi dính chặt vào sụn mũi ở vùng cánh mũi và đỉnh mũi. Ở sống mũi và gốc mũi, da dày hơn và dính chặt vào cấu trúc dưới da.

[GIẢI PHẪU LÀN DA] BÀI 1: Cấu trúc da | Trần Thị Thu Thủy
[GIẢI PHẪU LÀN DA] BÀI 1: Cấu trúc da | Trần Thị Thu Thủy

Các thành phần cấu tạo da quan trọng trong thẩm mỹ

Trong mục này chắc chắn sẽ có nhiều chị em quan tâm bởi vì ai cũng muốn có một làn da đẹp không tì vết mà.

Cấu trúc da collagen

Collagen là một protein cấu trúc chính trong da, đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguyên liệu cấu trúc cho tế bào, mô, cơ quan. Collagen cung cấp sức mạnh và độ bền bỉ, giữ vai trò chính trong duy trì sự đầy đặn, căng mịn và tươi trẻ cho da.

Collagen chiếm 75% protein cấu tạo nên da người, quyết định sự mềm mượt, đầy đặn, đàn hồi của da. Vì vậy, collagen được ứng dụng rất phổ biến trong lĩnh vực thẩm mỹ, tăng săn chắc và sửa chữa collagen (ví dụ: tiêm collagen vào da lấp đầy nếp nhăn và tạo độ căng cho môi). Sự thoái hóa và suy giảm sản xuất collagen sẽ dẫn đến hình thành các nếp nhăn, bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu của lão hóa.

Collagen được tạo ra bởi các nguyên bào sợi, là những tế bào da chuyên biệt nằm ở lớp trung bì. Nguyên bào sợi cùng các yêu tố tăng trưởng nguyên bào sợi đảm bảo quá trình sản xuất collagen trong da. Vitamin C cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc sản sinh collagen, nếu thiếu vitamin C, sự hình thành collagen sẽ bị gián đoạn và gây nên các biểu hiện tiêu cực trên da và các cơ quan khác. Tổng hợp collagen xảy ra liên tục trong suốt cuộc đời và giảm dần theo tuổi tác. Collagen liên tục sản sinh để sửa chữa, thay thế mô collagen bị hư hỏng hoặc xây dựng cấu trúc tế bào mới.

Để duy trì sự trẻ trung, việc bảo vệ cấu trúc và hạn chế các yếu tố làm suy thoái collagen là cần thiết. Các yếu tố có thể ảnh hưởng đến hàm lượng collagen trong da là các tia UV và gốc tự do. Việc hạn chế tiếp xúc với tia cực tím và sử dụng kem chống nắng hoặc gel phục hồi tái tạo da ZNSP Gel là cần thiết để hạn chế những tác động có hại của tia UV lên da, cụ thể là collagen.

Acid Hyaluronic

Đây là một chất tự nhiên được tìm thấy trong tất cả sinh vật sống. Acid Hyaluronic hoạt động như một lớp đệm và chất bôi trơn chống lại những tổn thương cơ học và hóa học. Chúng cung cấp cơ chế vận chuyển các chất dinh dưỡng thiết yếu từ mạch máu đến các tế bào da sống, ngoài ra chúng còn giúp giữ ẩm cho làn da nữa đó.

Ceramide – Lipid bảo vệ bề mặt da

Ceramide có cấu trúc không đồng nhất gồm các chất dẫn chính của sphingolipid được kết nối với nhau bằng liên kết amid. Ceramide đóng vai trò quan trọng trong chức năng, tính thấm và tính toàn vẹn của làn da. Không giống như thành phần của màng tế bào, ceramide hiện diện ở khoảng gian bào của da. Chúng không thể tự hình thành lớp màng lipid kép. Tuy nhiên, ceramide có thể liên kết với cholesterol, acid béo tự do ở pH sinh lý, góp phần làm giảm tính thấm của lớp biểu bì.

Độ ẩm da

Hàm lượng nước trong da ở cả lớp trung bì và biểu bì chiếm khoảng 80%. Lớp keratin ngoài cùng của lớp biểu bì gồm những tế bào chết nên có hàm lượng nước thấp nhất chỉ khoảng 10-30%. Chính lượng nước ở biểu bì và trung bì tạo sự mềm mại và độ sáng cho da. Lượng nước di chuyển từ lớp sâu nhất của da đến lớp keratin, cuối cùng nước được bốc hơi từ bề mặt.

Da là một trong những cơ quan tuyệt vời và thật đặc biệt trên cơ thể con người phải không nào. Hiểu được về cấu trúc da nghĩa là bạn đã nắm được yếu tố then chốt tạo nên một trong những vẻ đẹp của con người rồi đó. Nếu có thắc mắc hoặc muốn tìm hiểu về một vấn đề gì liên quan, đừng ngại ngần comment dưới bài viết này nhé. Chúc các bạn có một ngày tuyệt vời!!!

CÁC BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Các loại da và cách chăm sóc phù hợp

Các thao tác chăm sóc da cơ bản

Bổ sung vitamin gì cho làn da đẹp tự nhiên?

Da là một cơ quan phức tạp giúp bảo vệ cơ thể tránh những tác hại từ môi trường xung quanh và cho phép có sự tương tác với môi trường xung quanh. Chức năng chính của da là duy trì môi trường bên trong cơ thể, cho phép sinh vật có thể bảo vệ và tái tạo DNA một cách chính xác.

Các chức năng cơ bản của da

– Cơ quan miễn dịch giúp ngăn ngừa tình trạng nhiễm trùng– Hàng rào bảo vệ– Duy trì sự nguyên vẹn của da nhờ cơ chế sửa chữa– Cơ quan dinh dưỡng– Vai trò giao tiếp với môi trường bên ngoài và bên trong– Cơ quan điều nhiệt– Vai trò giao tiếp giữa người với người

Cấu tạo sinh lý

Da bao gồm 3 lớp: thượng bì, trung bì và hạ bì

1. Thượng bì (biểu bì)

Dày khoảng 0,2mm, có độ dày khác nhau từng vùng. Dày nhất ở lòng bàn chân và mỏng nhất ở vùng quanh mắt.

Thượng bì gồm các lớp : lớp đáy, lớp gai, lớp hạt và lớp sừng. Trong đó bao gồm các thành phần : keratinocyte, melanocyte, tế bào merkel, tế bào Langerhans và dây thần kinh cảm giác.

2. Trung bì (còn gọi là lớp bì)

Bì là mô liên kết, nâng đỡ biểu bì và gắn kết biểu bì với hạ bì. Bề dày của bì khác nhau tùy vùng cơ thể, dày tối đa 4mm ở da lưng.

Thành phần lớp bì: collagen, elastin, matrix, thụ thể thần kinh, mạch máu, tuyến mồ hôi, nang lông, tuyến bã.

Trong đó, collagen chiếm 80% lớp bì, có tác dụng làm da săn chắc. Sau 20 tuổi, collagen giảm 1%/ năm, việc đi nắng, ô nhiễm, stress sẽ làm giảm nhiều hơn do tăng kích thích và ức chế quá trình tổng hợp.

3. Hạ bì

Lớp này nằm dưới lớp trung bì, có chứa nhiều mỡ nên còn được gọi là mô mỡ dưới da. Lớp này đóng vai trò quan trọng như một tấm nệm giúp bảo vệ cơ bắp và các cơ quan bên trong, giữ nhiệt.

Mô mỡ có độ dày mỏng khác nhau tùy vị trí. Dày nhất ở vùng bụng, ngực, mông, đùi. Mỏng nhất ở vùng mí mắt, mũi, môi.

Mô mỡ của nữ dày hơn nam, nên cơ thể phụ nữ có đường cong uyển chuyển đẹp mắt. Và phụ nữ cũng dễ tăng cân béo phì hơn nam giới.

Thông tin chi tiết, vui lòng liên hệ:

Medcare Skin Centre

95/36 Bắc Hải, phường 15, quận 10, TP.HCMHotlines: (028) 39 700 555 – 01245 115 115Email: [email protected]

Thứ tự các lớp của da từ ngoài vào trong

Các lớp của da có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan bên trong, tác dụng điều hòa thân nhiệt, ngăn ngừa tình trạng cơ thể mất nước và duy trì độ ẩm cần thiết. Đặc biệt, 1 làn da khỏe mạnh và không có bất kì vấn đề gì sẽ khiến cho chúng ta cảm thấy thoải mái, tự tin hơn.

Các tầng lớp của da

2.Lớp biểu bì

Biểu bì là lớp ngoài cùng của da, được định nghĩa là biểu mô vảy phân tầng, chủ yếu bao gồm các tế bào sừng trong các giai đoạn biệt hóa tiến triển. Tế bào sừng tạo ra chất sừng protein và là thành phần xây dựng chính (tế bào) của lớp biểu bì. Vì lớp biểu bì là vô mạch (không chứa mạch máu), nó hoàn toàn phụ thuộc vào lớp hạ bì bên dưới để phân phối chất dinh dưỡng và thải chất thải qua màng đáy.

Chức năng chính của lớp biểu bì là hoạt động như một rào cản vật lý và sinh học đối với môi trường bên ngoài, ngăn chặn sự xâm nhập của các chất kích thích và chất gây dị ứng. Đồng thời, nó ngăn ngừa sự mất nước và duy trì cân bằng nội môi. Biểu bì được cấu tạo bởi các lớp; hầu hết các bộ phận cơ thể có bốn lớp, nhưng những người có lớp da dày nhất có năm lớp.

Các tế bào ở da bao gồm:

– Tế bào sừng (Keratinocyte) sản xuất keratin (protein dạng sợi dai). Tế bào sừng được hình thành do sự phân chia trong lớp đáy. Khi chúng di chuyển lên qua tầng gai và tầng hạt, chúng phân hóa để tạo thành một cấu trúc bên trong cứng chắc của keratin, vi sợi và vi ống (keratinisation). Lớp ngoài của biểu bì, lớp sừng, bao gồm các lớp tế bào chết dẹt đã mất nhân. Các tế bào này sau đó bị bong ra khỏi da (bong vảy); quá trình hoàn chỉnh này mất khoảng 28 ngày.

Giữa các tế bào sừng này có một hỗn hợp phức tạp của lipid và protein. Các lipid gian bào này bị phân hủy bởi các enzyme từ tế bào sừng để tạo ra một hỗn hợp lipid gồm ceramide (phospholipid), axit béo và cholesterol. Các phân tử này được sắp xếp theo kiểu tổ chức cao, kết hợp với nhau và các tế bào sừng để tạo thành hàng rào lipid của da chống lại sự mất nước và sự xâm nhập của các chất gây dị ứng và kích ứng.

Lớp sừng có thể được hình dung như một bức tường gạch, với các tế bào sừng tạo thành gạch và các lớp lipid tạo thành vữa. Vì các tế bào sừng có chứa chất giữ nước – một yếu tố giữ ẩm tự nhiên – chúng hút và giữ nước. Hàm lượng nước cao trong các tế bào sừng khiến chúng phồng lên, giữ cho lớp sừng mềm dẻo và đàn hồi, đồng thời ngăn ngừa sự hình thành các vết nứt và rạn. Đây là một lưu ý quan trọng khi áp dụng các loại thuốc bôi ngoài da. Chúng được hấp thụ qua hàng rào biểu bì vào các mô và cấu trúc bên dưới (hấp thụ qua da) và chuyển đến hệ tuần hoàn.

Lớp sừng quy định số lượng và tốc độ hấp thụ qua da. Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến điều này là độ ẩm của da và độ ẩm môi trường. Ở những làn da khỏe mạnh với quá trình hydrat hóa bình thường, thuốc chỉ có thể thâm nhập vào lớp sừng bằng cách đi qua hàng rào lipid chặt chẽ, tương đối khô giữa các tế bào. Khi tăng độ ẩm cho da hoặc hàng rào bình thường của da bị suy giảm do bệnh da, bong tróc, bào mòn, nứt nẻ hoặc sinh non, sự hấp thụ qua da sẽ tăng lên.

– Tế bào hắc tố: những tế bào này tạo ra sắc tố da sẫm màu. Tế bào hắc tố được tìm thấy ở tầng đáy và nằm rải rác giữa các tế bào sừng dọc theo màng đáy với tỷ lệ một tế bào hắc tố trên 10 tế bào đáy. Chúng tạo ra sắc tố melanin, được sản xuất từ tyrosine, là một axit amin, được đóng gói trong các túi tế bào gọi là melanosomes, và được vận chuyển và phân phối vào tế bào chất của tế bào sừng. Chức năng chính của melanin là hấp thụ bức xạ tia cực tím (UV) để bảo vệ chúng ta khỏi tác hại của nó.

Màu da không được xác định bởi số lượng tế bào hắc tố mà bởi số lượng và kích thước của các melanosome. Nó bị ảnh hưởng bởi một số sắc tố, bao gồm melanin, caroten và hemoglobin. Melanin được chuyển vào tế bào sừng thông qua melanosome. Do đó, màu sắc của da phụ thuộc vào số lượng melanin được sản xuất bởi các tế bào hắc tố ở tầng đáy và được các tế bào sừng tiếp nhận.

Melanin xuất hiện ở hai dạng chính:

+ Eumelanin: tồn tại dưới dạng đen và nâu

+ Pheomelanin: tạo màu đỏ

Màu da cũng bị ảnh hưởng bởi việc tiếp xúc với bức xạ UV, các yếu tố di truyền và ảnh hưởng nội tiết tố.

– Tế bào Merkel: được liên kết với các đầu dây thần kinh cảm giác. Những tế bào này chỉ hiện diện với một số lượng rất nhỏ trong tầng đáy. Chúng liên kết chặt chẽ với các sợi tận cùng của dây thần kinh da và dường như có vai trò trong cảm giác, đặc biệt là ở các vùng trên cơ thể như lòng bàn tay, lòng bàn chân và cơ quan sinh dục.

– Tế bào Langerhans: tế bào đuôi gai giống đại thực bào. Đây là những tế bào đại diện cho kháng nguyên (vi sinh vật và protein lạ) được tìm thấy trong lớp gai. Chúng là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể và thường xuyên theo dõi các kháng nguyên trong môi trường xung quanh để có thể bẫy chúng và trình bày chúng với tế bào lympho T-helper, do đó kích hoạt phản ứng miễn dịch

Quá trình sừng hóa của lớp biểu bì là một quá trình liên tục. Các tế bào cần thiết cho sự đổi mới liên tục này đến từ lớp cơ bản nơi diễn ra quá trình phân chia tế bào. Vì quá trình này rất nhạy cảm với bức xạ , có các sắc tố trong lớp mầm tạo ra một lớp bảo vệ da sẫm màu hơn khi tiếp xúc với ánh nắng mạnh.

Mặt khác, lớp sừng rất mỏng ở những nơi cần độ mềm dẻo cao hơn, chẳng hạn như trên mí mắt. Ở những nơi tiếp xúc với căng thẳng cơ học, như lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân, nó dày hơn và có thể hình thành vết chai. Sự hình thành các vết chai là một cơ chế bảo vệ. Ngay sau khi các tác động giảm xuống, sự hình thành các lớp dày hơn sẽ dừng lại.

2.Lớp hạ bì

Hạ bì, lớp tiếp theo của da, là một lớp mô sợi dày và đàn hồi (được tạo ra chủ yếu từ collagen, với một thành phần nhỏ nhưng quan trọng là elastin) mang lại cho da sự dẻo dai và khỏe mạnh. Lớp hạ bì chứa các đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi và tuyến dầu (tuyến bã nhờn), nang lông và mạch máu.

Các đầu dây thần kinh cảm nhận cảm giác đau, xúc giác, áp lực và nhiệt độ. Một số vùng da chứa nhiều đầu dây thần kinh hơn những vùng khác. Ví dụ, các đầu ngón tay và ngón chân chứa nhiều dây thần kinh và cực kỳ nhạy cảm khi chạm vào.

Các tuyến mồ hôi tiết ra mồ hôi để phản ứng với nhiệt và căng thẳng. Mồ hôi bao gồm nước, muối và các hóa chất khác. Khi mồ hôi bốc hơi khỏi da, nó sẽ giúp làm mát cơ thể. Các tuyến mồ hôi chuyên biệt ở nách và vùng sinh dục (tuyến mồ hôi apocrine) tiết ra mồ hôi dầu, đặc, tạo ra mùi cơ thể đặc trưng khi mồ hôi được tiêu hóa bởi vi khuẩn da ở những vùng đó.

Các tuyến bã nhờn tiết ra chất nhờn vào nang lông. Bã nhờn là một loại dầu giữ cho da ẩm và mềm mại và hoạt động như một hàng rào chống lại các chất lạ.

Các nang tóc tạo ra nhiều loại tóc khác nhau trên khắp cơ thể. Tóc không chỉ góp phần tạo nên vẻ ngoài của một người mà còn có một số vai trò quan trọng về thể chất, bao gồm điều chỉnh nhiệt độ cơ thể, bảo vệ khỏi tổn thương và tăng cường cảm giác. Một phần của nang cũng chứa các tế bào gốc có khả năng mọc lại các lớp biểu bì bị tổn thương.

Các mạch máu của lớp hạ bì cung cấp chất dinh dưỡng cho da và giúp điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Nhiệt làm cho các mạch máu nở ra (giãn ra), cho phép một lượng lớn máu lưu thông gần bề mặt da, nơi có thể giải phóng nhiệt. Lạnh làm cho các mạch máu thu hẹp (co lại), giữ nhiệt cho cơ thể.

Ở các bộ phận khác nhau của cơ thể, số lượng các đầu dây thần kinh, tuyến mồ hôi và tuyến bã nhờn, nang lông và mạch máu khác nhau. Ví dụ, đỉnh đầu có nhiều nang lông, trong khi lòng bàn chân không có.

Lớp mỡ

Bên dưới lớp hạ bì là một lớp chất béo giúp cách nhiệt cơ thể khỏi nhiệt và lạnh, tạo lớp đệm bảo vệ và đóng vai trò như một khu vực dự trữ năng lượng. Chất béo được chứa trong các tế bào sống, được gọi là tế bào mỡ, được tổ chức với nhau bằng mô sợi. Lớp mỡ có độ dày khác nhau, từ một phần inch trên mí mắt đến vài inch trên bụng và mông ở một số người.

Mô hình giải phẫu cấu tạo các lớp da người
Mô hình giải phẫu cấu tạo các lớp da người

Cấu trúc của da, các tầng lớp và vai trò

Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Bác sĩ chuyên khoa I Lê Thị Thu Hằng – Bác sĩ Da Liễu – Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng.

Da là một trong những cơ quan lớn nhất trong cơ thể về diện tích bề mặt và trọng lượng. Da bao gồm hai lớp chính: lớp biểu bì và lớp trung bì. Da có ba chức năng chính: bảo vệ, điều hòa nhiệt độ và cảm giác. Vết thương ảnh hưởng đến tất cả các chức năng của da. Bài viết này giúp bạn hiểu rõ hơn về cấu trúc của da, các tầng lớp và vai trò của da.

Keywords searched by users: giải phẫu cấu trúc da

Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl'S
Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl’S
Da Và Cấu Tạo Sinh Lý Của Da - Medcare Skin Centre
Da Và Cấu Tạo Sinh Lý Của Da – Medcare Skin Centre
Cấu Trúc Da Là Gì? Hãy Đọc Để Có Một Làn Da Khỏe Đẹp Mỗi Ngày
Cấu Trúc Da Là Gì? Hãy Đọc Để Có Một Làn Da Khỏe Đẹp Mỗi Ngày
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp Và Chức Năng - Vita Clinic
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp Và Chức Năng – Vita Clinic
Da Và Cấu Trúc Sinh Lý Của Da
Da Và Cấu Trúc Sinh Lý Của Da
Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Cấu Trúc Của Da, Các Tầng Lớp Và Vai Trò | Vinmec
Dạy Spa | Học Spa | Dạy Nghề Spa | Học Nghề Spa | Dạy Chăm Sóc Da | Học  Chăm Sóc Da| Dạy Nghề Spa | Học Nghề Spa.
Dạy Spa | Học Spa | Dạy Nghề Spa | Học Nghề Spa | Dạy Chăm Sóc Da | Học Chăm Sóc Da| Dạy Nghề Spa | Học Nghề Spa.
Giải Phẫu Và Sinh Lý Da - Bác Sĩ Da Liễu Trần Liêm - Nhathuocngocanh.Com
Giải Phẫu Và Sinh Lý Da – Bác Sĩ Da Liễu Trần Liêm – Nhathuocngocanh.Com
Cấu Trúc Da Mặt - Điều Bạn Cần Phải Biết Để Có Làn Da Khỏe Mạnh
Cấu Trúc Da Mặt – Điều Bạn Cần Phải Biết Để Có Làn Da Khỏe Mạnh
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp Và Chức Năng - Vita Clinic
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp Và Chức Năng – Vita Clinic
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
Cấu Trúc Và Chức Năng Của Da
Cấu Trúc Da Mặt - Tìm Hiểu Ngay Nếu Muốn Sở Hữu Làn Da Đẹp
Cấu Trúc Da Mặt – Tìm Hiểu Ngay Nếu Muốn Sở Hữu Làn Da Đẹp
Cấu Trúc Da Nam Giới
Cấu Trúc Da Nam Giới
Giải Phẫu Và Sinh Lý Da - Bác Sĩ Da Liễu Trần Liêm - Nhathuocngocanh.Com
Giải Phẫu Và Sinh Lý Da – Bác Sĩ Da Liễu Trần Liêm – Nhathuocngocanh.Com
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp? Chức Năng Da Là Gì?
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp? Chức Năng Da Là Gì?
Da Và Cấu Tạo Sinh Lý Của Da - Medcare Skin Centre
Da Và Cấu Tạo Sinh Lý Của Da – Medcare Skin Centre
Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl'S
Cấu Trúc Của Da Và Chức Năng Của Da Là Gì? | Kiehl’S
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp? Chức Năng Da Là Gì?
Cấu Trúc Da Gồm Mấy Lớp? Chức Năng Da Là Gì?
Cấu Trúc Da
Cấu Trúc Da
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Bvntp
Cấu Tạo Và Chức Năng Của Da | Bvntp
Mô Hình Da 3D | Y Khoa Kim Minh
Mô Hình Da 3D | Y Khoa Kim Minh
Cấu Tạo Da | Sgk Sinh Lớp 8
Cấu Tạo Da | Sgk Sinh Lớp 8
Tìm Hiểu Kiến Thức Tổng Quan Về Cấu Trúc Da Người
Tìm Hiểu Kiến Thức Tổng Quan Về Cấu Trúc Da Người
Cấu Trúc Da Mặt - Điều Bạn Cần Phải Biết Để Có Làn Da Khỏe Mạnh
Cấu Trúc Da Mặt – Điều Bạn Cần Phải Biết Để Có Làn Da Khỏe Mạnh
Giải Phẫu Da : Da Liễu Hồng Đức ®
Giải Phẫu Da : Da Liễu Hồng Đức ®
Da | Ppt
Da | Ppt
Mô Hình Giải Phẫu Cấu Tạo Da Người
Mô Hình Giải Phẫu Cấu Tạo Da Người
Từ Khóa: Tranh Giải Phẫu Cấu Trúc Da
Từ Khóa: Tranh Giải Phẫu Cấu Trúc Da
Cấu Trúc Giải Phẫu Của Da
Cấu Trúc Giải Phẫu Của Da
Cấu Trúc Da Mặt - Tìm Hiểu Ngay Nếu Muốn Sở Hữu Làn Da Đẹp
Cấu Trúc Da Mặt – Tìm Hiểu Ngay Nếu Muốn Sở Hữu Làn Da Đẹp

See more here: sixsensesspa.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *