Chuyển tới nội dung
Home » Song Rồi Hay Xong Rồi | Xong Rồi Có Nghĩa Là Gì?

Song Rồi Hay Xong Rồi | Xong Rồi Có Nghĩa Là Gì?

Rồi Xong Lên Xe Bông | Quách Tuấn Du | Official MV

看语境吧,也有完了、完蛋了、完犊子了的意思

Câu trả lời được đánh giá cao

[Tin tức] Này bạn! Người học ngoại ngữ!

Bạn có biết cách cải thiện kỹ năng ngôn ngữ của mình không❓ Tất cả những gì bạn cần làm là nhờ người bản ngữ sửa bài viết của mình!Với HiNative, bạn có thể nhờ người bản ngữ sửa bài viết của mình miễn phí ✍️✨.

Với HiNative, bạn có thể nhờ người bản ngữ sửa bài viết của mình miễn phí ✍️✨.

Đăng ký

Các câu hỏi được gợi ý

  • Từ này à nhon sê ô có nghĩa là gì?
  • Từ này tình bể bình có nghĩa là gì?
  • Từ này clm có nghĩa là gì?
  • Từ này Tinh hoa hội tụ!!! có nghĩa là gì?
  • Từ này what does haiz mean? có nghĩa là gì?

Newest Questions (HOT)

Những câu hỏi mới nhất

  • Từ này Nhất định bạn phải ăn thử các món ăn nổi tiếng. の nhất định は、「間違いなく」の意味ですか? có nghĩa là gì?
  • Từ này khoa học viễn tưởng có nghĩa là gì?
  • Từ này Va lung tung với cái đứa hay tung tăng Mary có nghĩa là gì?
  • Từ này Mẹ không biết tất cả mọi việc Nhưng mẹ sẽ cố gắng làm tất cả vì con có nghĩa là gì?
  • Từ này 베트남 có nghĩa là gì?

Câu hỏi trước đó/Câu hỏi tiếp theo

Chúng tôi tiếp tục dẫn ra những ví dụ sai chính tả của cuốn sách “Từ điển chính tả tiếng Việt” (PGS-TS Hà Quang Năng chủ biên – ThS Hà Thị Quế Hương; NXB ĐHQG Hà Nội – 2017).

24 – “TÁNG: táng gia bại sản”

Viết đúng là “TÁN gia”. Vì “TÁN” 散 là từ gốc Hán, có nghĩa tiêu tan, mất mát. Tán gia bại sản 散 家 敗 產 = gia đình tan nát, tài sản tiêu tan (Dị bản gốc Hán: khuynh gia bại sản – 傾 家 敗 產).

25 – “TRƯỜNG: xa trường”

Viết đúng là “SA trường”. “Sa trường” 沙 場 là từ Việt gốc Hán, trong đó “sa” 沙 nghĩa gốc là “cát”, “bãi cát ven sông”. “SA trường” 沙 場 = bãi cát bằng mà rộng, thường dùng để chỉ chiến trường.[K]

26 – “TRƯỞNG: trưởng bạ”

Viết đúng là “Chưởng bạ”, vì “chưởng” 掌 nghĩa là nắm, giữ; “chưởng bạ” 掌 簿 = người nắm giữ sổ sách giấy tờ; cũng như “chưởng ấn” 掌 印 = người giữ ấn tín. Có thể do nhóm soạn giả thu thập trong “Từ điển từ và ngữ Việt Nam” (GS Nguyễn Lân).

27 – “XẨY: xẩy chân; xẩy đàn tan nghé; xẩy nhà ra thất nghiệp”

Mục “XẨY” có ba từ ngữ đều sai cả. “XẨY” (hay xảy) là dùng trong “xảy ra” (sự việc), khác với “SẨY” nghĩa là mất mát, rơi rụng, lỡ hụt, lìa tan… Ví dụ, “Sẩy vai xuống cánh tay”, “Sẩy miệng, buột lời”, “Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì”, “Con cá sẩy là con cá to”… Theo đây, viết đúng phải là “SẨY chân”, “SẨY đàn tan nghé”, “SẨY nhà ra thất nghiệp”.[K]

28 – “XẢY: xảy đàn tan nghé; xảy tay”

Lỗi “S” thành “X” lặp lại ở mục này, chứng tỏ cái sai của các soạn giả không phải là “sơ sảy”.

29 – “XẺ: xẻ cơm nhường áo”

Viết đúng phải là “SẺ cơm nhường áo”. Vì “SẺ” đây chính là “sẻ” trong “san sẻ”, “chia sẻ”.

30 – “XỈ: xỉ mắng; xỉ nhục”

Viết đúng phải là “SỈ mắng”, “SỈ nhục” 恥 辱, vì “SỈ” 恥 là yếu tố gốc Hán, có nghĩa là làm cho nhục nhã.[K]

31 – “XỈA: xưng xỉa”

Viết đúng là “SƯNG SỈA”. Đây là từ ghép đẳng lập: “sưng” = phồng, phù da thịt lên (như sưng mặt; sưng phù); “sỉa” = sưng phù lên (như sỉa chân, mặt sưng mày sỉa).[K]

32 – “XOA: xít xoa”

Viết đúng là “xuýt xoa” (“XUÝT” = phát ra tiếng gió trong miệng; “xoa” = dùng tay mơn nhẹ vết thương hoặc xoa lại với nhau, tỏ vẻ đau đớn, kinh ngạc hay tiếc nuối…).[K]

33 – “REO: reo rắc”

Viết đúng là “gieo rắc” – từ ghép đẳng lập: “gieo” đồng nghĩa với “GIEO” trong “gieo hạt” + “RẮC” trong “rắc hạt”.[K]

34 – “XOÀI: xóng xoài”

Viết chuẩn là “SÓNG SOÀI”, (cũng như viết “sóng sượt”, không phải “xóng xượt”).

35 – “TRỪU: trừu mến”

Viết đúng là “TRÌU mến”. Vì “TRÌU” biến âm của “TRÍU”, nghĩa là thương mến, không muốn rời ra. “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức) mục “trìu mến” hướng dẫn xem “tríu-mến”: Trìu-mến, yêu-thương như ghiền (nghiện) hơi, khiến quấn-quýt một bên luôn: Đem lòng tríu-mến”.[K]

36 – “XỌM: già xọm”

Viết đúng là “già sọm” (SỌM = gầy, già yếu, hom hem).[K]

37 – “XỘ: xừng xộ”

Viết đúng là “sừng sộ”, vì “SỪNG” nghĩa là gườm nhau, khiêu khích, chực ăn thua với nhau.[K]

38 – “XỚI: xới chọi gà”

Viết “SỚI” mới đúng. Vì “sới” trong “SỚI chọi gà” chính là “sới” trong “sới vật”, “sới võ”, mà Vietlex giảng là: “khoảng đất được bố trí làm nơi đấu vật hoặc chọi gà, chọi chim để tranh giải trong ngày hội”.[K]

39 – “XUẤT: khinh xuất”

Viết đúng là “khinh suất” 輕 率. Đây là từ ghép đẳng lập gốc Hán: “khinh” 輕 = xem nhẹ; “SUẤT” 率= hấp tấp, không thận trọng.

40 – “XỨ: xứ bộ”

Chỉ có “SỨ bộ”, không có “XỨ bộ” (Vietlex: “sứ bộ” 使 部 d. [cũ] phái đoàn đi sứ thời phong kiến”).[K]

41 – “XỰC: mũi xực lên; thơm xực”.

Viết đúng là “SỰC lên”, “thơm SỰC”.[K]

Trở lên là gần 60 lỗi ở dạng sai chính tả đơn thuần, trong đó phần lớn là những lỗi nặng. Dĩ nhiên, đây không phải là tất cả những lỗi mà chúng tôi đã phát hiện, hay những lỗi có trong sách.

Cuốn “Từ điển chính tả tiếng Việt” lại sai nhiều lỗi chính tả. Trong ảnh: Vài trang có lỗi chính tả tiêu biểu

B – Nhầm lẫn giữa cách viết cũ từng được ghi nhận, với “chính tả chuẩn” hiện hành:

Ở phần “Lời nói đầu”, nhóm soạn giả ghi rõ: “Từ điển chính tả tiếng Việt được biên soạn nhằm cung cấp các dạng chính tả chuẩn của các từ ngữ thông dụng theo chính âm và chính tả tiếng Việt, đồng thời cũng chỉ dẫn những dạng chính tả không chuẩn nhưng vẫn được sử dụng.” (HTC nhấn mạnh).

Tuy nhiên, trong thực tế, nhóm soạn giả đã đánh đồng, hoặc nhầm lẫn giữa cách viết từng tồn tại hoặc “không chuẩn nhưng vẫn được sử dụng”, với “chính tả chuẩn [… theo chính âm và chính tả tiếng Việt]”. Ví dụ:

– “GIỘP (cv. rộp): giộp da, giộp lưỡi, giộp nước sơn >< bỏng giộp”.

– “GIA: gia giết (cv. da diết)”.

“Giộp”, “gia giết” là cách viết cũ. Bởi vậy, lẽ ra nên hướng dẫn “thường viết” hoặc “nên viết” “RỘP”, “DA DIẾT”…, thì soạn giả lại hướng dẫn “cũng viết” “RỘP”, “cũng viết” “DA DIẾT”, biến cách viết cũ, không chuẩn, thành cách viết chuẩn và ngược lại.

Thậm chí, mục “DÔ hướng dẫn viết “dã dượi” (đây là cách viết cũ, có được từ điển ghi nhận nhưng không có nghĩa là “chính tả chuẩn”). Đến mục “RÔ, lại hướng dẫn viết “rã rượi”, đặt người dùng sách vào sự may rủi khi tra cứu. Bởi lẽ, cùng trong một sách nhưng chỗ này thì đúng, còn chỗ khác thì sai (tình trạng này khá nhiều trong sách).

C – Nhầm lẫn hai từ đồng nghĩa với một từ có hai dạng chính tả:

Ở phần “Phụ lục 3 – Danh sách các từ ngữ có hai dạng chính tả đều được chấp nhận trong tiếng Việt” (50 trang), một số dạng như: “biệt tăm – bặt tăm”; “bột phát – bộc phát”… có thể chấp nhận được. Song, phần lớn soạn giả nhầm lẫn, đánh đồng những cặp từ gần nghĩa, đồng nghĩa không hoàn toàn trong mọi trường hợp với “các từ ngữ có hai dạng chính tả”. Như: “bàn hoàn – bàng hoàng”; “đại thụ – đại thọ”; “đông nghịt – đông nghẹt”; “mất lòng – mích lòng”… Thực tế, “mất lòng” và “mích lòng” là hai từ không đồng nghĩa hoàn toàn. Ví như có thể viết “mất lòng dân”, chứ không viết “mích lòng dân”.

Tương tự, hàng loạt từ láy và không láy bị soạn giả xếp vào “các từ ngữ có hai dạng chính tả”, như: “tôi tối – tối”; “trăng trắng – trắng”; “vun vút – vút”… Những cặp từ này không phải hai dạng chính tả. Ví dụ: “vun vút” là nhanh và liên tiếp, còn “vút” chỉ là nhanh…

Một cuốn tiểu thuyết hơn 700 trang mà bạn đọc vấp phải khoảng 50 lỗi sai chính tả có gọi là nhiều không? Dĩ nhiên là nhiều, và rất khó chấp nhận. Với một cuốn từ điển chính tả có cùng số trang, với yêu cầu phải “khuôn vàng thước ngọc” mà lại phạm chừng gấp đôi, gấp ba số lỗi ấy, thì lại càng khó chấp nhận, đúng hơn là không thể chấp nhận!

(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 7-6

Khi nào thì nên sử dụng từ xong xuôi

Như mình đã chia sẻ ở bên trên Xong xuôi hay Song xuôi đâu là từ viết đúng chính tả, bây giờ hãy cùng mình tìm hiểu xem khi nào thì nên sử dụng từ xong xuôi bạn nhé!

– Sử dụng từ xong xuôi để nói về công việc mà bạn đã làm xong: Nếu như bạn đã làm xong công việc của mình, không còn vướng mắc bất cứ điều gì nữa thì bạn có thể sử dụng từ xong xuôi để nói về công việc của bạn,..

– Sử dụng từ xong xuôi khi trò chuyện với bạn bè: Trong lúc trò chuyện với bạn bè của mình thì bạn có thể sử dụng từ xong xuôi để chia sẻ về những việc mà mình đã làm,…

Lời kết

Vậy là mình đã chia sẻ đến bạn bài viết Xong xuôi hay Song xuôi đâu là từ viết đúng chính tả, với những thông tin và những điều mà mình đã chia sẻ đến bạn trong bài viết này, mình hi vọng bạn đã nắm rõ được “xong xuôi” hay “song xuôi” đâu là từ đã viết đúng. Đừng quên trở lại trang Tin nhanh Plus để theo dõi, khám phá, chờ đón những bài viết mới nhất về các lỗi chính tả bạn nhé! ❤

>> Gợi ý thêm dành cho bạn:

Nhân dịp nhận được thắc mắc của bạn đọc về 2 từ “sum suê”, “xum xuê” thì dùng từ nào là chính xác, chúng tôi tra cứu từ điển thì được biết cả 2 từ “sum suê”, “xum xuê” cùng được sử dụng theo kiểu “lưỡng khả” với nhóm từ có âm đầu S-X, cùng được xem là viết đúng chính tả, chứ không có trường hợp nào bị lỗi cả.

Cả 3 từ “xum xuê, sum suê, sum sê” sử dụng đều đúng

Đồng thời, từ điển còn ghi nhận thêm trường hợp thứ 3 là từ “sum sê” cùng chỉ một khái niệm như 2 từ trên và ghi rõ: “sum suê” là từ ít dùng, đề nghị xem mục từ “sum sê” [tr. 842]. “Xum xuê” cũng đề nghị xem mục từ “sum sê” [tr. 1.121]. Cuối cùng, từ điển giải thích “sum sê” là tính từ với nghĩa là chỉ cây cối có nhiều cành lá rậm rạp, tươi tốt. Ví dụ như: Cây cổ thụ cành lá sum sê. Vườn quả sum sê. [Hoàng Phê chủ biên (1995), Từ điển tiếng Việt, tr. 842].

Như vậy, dạng chuẩn của nhóm 3 từ này được từ điển công nhận là từ “sum sê”, còn 2 từ “sum suê”, “xum xuê” cũng đều có thể dùng được với tư cách một trường hợp “tam khả” – tất cả đều đúng. (hình 1)

Lỗi chính tả âm đầu S-X

Sở dĩ nhiều người còn lấn cấn, do dự khi chọn một hai từ “sum suê/ xum xuê” bởi vì họ e ngại mắc lỗi chính tả khi viết các từ có âm đầu S-X; đây là một trong 3 trường hợp nhầm lẫn âm đầu tiêu biểu của cư dân vùng phương ngữ Bắc bộ. Cộng đồng cư dân ở vùng phương ngữ này khi viết thì có thể phân biệt được, nhưng khi phát âm thì đồng nhất hai phụ âm S-X với nhau, cùng đọc là /s/ (xờ) chứ khó phát âm /ʂ/ (sờ). Nguyên nhân mà các nhà ngữ học đã chỉ ra là bởi S thuộc trong nhóm 3 phụ âm quặt lưỡi R, S, TR mà cư dân Bắc bộ khó phát âm, nên hay bị phát âm đồng nhất theo các phụ âm khác là R→D/GI (Ví dụ: râu→dâu/giâu), S→X (sấu→xấu), TR→CH (trâu→châu). Từ đó dẫn đến hiện tượng học sinh tiểu học ở vùng phương ngữ này hay bị phạm lỗi chính tả khi viết các từ có chứa một trong 3 âm đầu quặt lưỡi này.

Thực tế, trên nước ta hiện nay hiếm có vùng phương ngữ/ thổ ngữ nào phát âm hoàn toàn lý tưởng theo đúng chuẩn chính tả tiếng Việt 100%, mà vùng nào cũng mắc lỗi (so với lý thuyết chuẩn chính tả/ chính âm) không nhiều thì ít, không ở vị trí âm vị này thì ở vị trí âm vị khác trong 5 vị trí âm vị: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Trong tương quan chung như trên, ở các vùng phương ngữ Trung bộ, Nam bộ – cũng do đọc sao viết vậy – mà học sinh tiểu học lại mắc phải các lỗi chính tả khác khi viết như nhầm lẫn âm đầu V→D/GI (Ví dụ: viết →diết/giết); âm cuối -T→-C (bát→bác), -N→-NG (bàn→bàng); thanh điệu hỏi↔ngã (sửa↔sữa)…

Trở lại với lỗi phát âm Bắc bộ S→X, GS. Đoàn Thiện Thuật nhận xét: “Người Hà Nội và ở nhiều địa phương trên miền Bắc không phân biệt c/tʂ, s/ʂ, z/ʐ trong giao tế hằng ngày, nghĩa là phát âm như nhau các âm đầu đang xét trong các từ sau đây: “che chở” và “cây tre”, “xa xôi” và “nước sôi”, “da thịt”, “gia đình” và “đi ra”. Tất cả các âm đầu này đều được phát âm với đầu lưỡi bẹt” [Đoàn Thiện Thuật (1999), Ngữ âm tiếng Việt, tr. 159]

Hiện tượng “lưỡng khả”, “tam khả”

Trong từ vựng tiếng Việt, hiện tượng “lưỡng khả” của các cặp từ có âm đầu dễ nhầm lẫn trong phương ngữ Bắc bộ tồn tại không ít. Như trường hợp các cặp từ có âm đầu D-GI lưỡng khả, trong một công trình nghiên cứu, người viết bài này đã có dịp thống kê và thu được kết quả có hơn 50 từ có thể viết âm đầu là D hoặc GI đều được; ví dụ như: dàn/giàn (mướp), (trôi) dạt/giạt, (cơn) dông/giông, dội/giội (nước), (thư) dãn/giãn… trong thực tiễn sử dụng tiếng Việt hiện nay, viết cách nào cũng đúng.

Tương tự, nhiều trường hợp “lưỡng khả” của các cặp từ âm đầu S/X, mà người viết sử dụng một trong hai dạng đều đúng, như: chổi sể (cũng viết/cũng nói) = chổi xể, eo sèo = eo xèo, kếch sù = kếch xù, kiêu sa = kiêu xa, rên siết = rên xiết, suýt té = xuýt té, sỉ vả = xỉ vả, … cùng những trường hợp lưỡng khả S-X và X-S, chúng tôi tạm kê ra dưới đây: sả3/ xả2, sá/ xá, sải xải, săm sắn/ xăm xắn, sắm nắm/ xắm nắm, seo2/ xeo2, sệ/ xệ, sề sệ/ xề xệ, sù/ xù2, sù sì/ xù xì, sủng soảng/ xủng xoảng; xổng/ sổng, xổng xểnh/ sổng sểnh, xá1/ sá1, xa xả/ sa sả, xà lan/ sà lan, xải/ sải1, xàm xỡ/ sàm sỡ, xạm/ sạm, xán1/ sán1, xao nhãng/ sao nhãng, xẩm/ sẩm, xâm xẩm/ sâm sẩm, xây xát/ sây sát, xiểm nịnh/ siểm nịnh, xiết2/ siết, xoi mói/ soi mói, xoong/ soong, xồn xồn/ sồn sồn1, xù2/ sù, xúc xắc/ súc sắc, xuýt2/ suýt, xuýt xoát/ suýt soát, xuỵt/ suỵt, xửng cồ/ sửng cồ… [Hoàng Phê, sách đã dẫn] (hình 2)

Một trường hợp lưỡng khả S-X viết “sổng” hay “xổng” đều đúng

Hiện tượng “tam khả” trong trường hợp 3 từ: “xum xuê”, “sum suê”, “sum sê” như vừa đề cập trên quả là hiếm gặp; duy chỉ ghi nhận thêm trường hợp “tam khả” từ có âm đầu S với với tính từ: sóng soài/ sóng soải/ sóng sượt = “Ở tư thế nằm thẳng dài người ra, không động đậy”. Tuy nhiên, bên cạnh trường hợp ít ỏi một từ có thể viết âm đầu là S hoặc X đều đúng như “sum suê/ xum xuê”, còn lại khá nhiều cặp từ có âm đầu S-X khó phân biệt, dễ nhầm lẫn và hay bị viết sai chính tả.

Mẹo sửa lỗi chính tả S-X

Có thể coi mẹo chính tả là những cách thức giản tiện, dễ nhớ do các nhà ngôn ngữ đặt ra. Mẹo chính tả giúp cho người viết dễ dàng tìm ra cách viết đúng một cách nhanh nhất mà không cần phải tra cứu từ điển. Nói chung, cách phân biệt S/X không có quy luật riêng. Cách sửa chữa lỗi chính tả này hiệu quả nhất là nắm nghĩa của từng từ, rèn luyện trí nhớ bằng cách đọc nhiều và viết nhiều, đồng thời ghi nhớ và vận dụng một số mẹo Luật Chính tả thông dụng, như: X xuất hiện trong các tiếng có âm đệm u/o như: xuề xòa, xoay xở, xoành xoạch, xuềnh xoàng…, còn S chỉ xuất hiện trong một số ít các âm tiết có âm đệm như: soát, soạt, soạn, soạng, suất. X và S không cùng xuất hiện trong một từ láy.

Xin giới thiệu thêm một mẹo nhỏ trong cách xác định âm đầu S-X của PGS. Lê Trung Hoa: tên các con vật và cây cối thường có âm đầu là S: sáo, sâu, sên, sếu, sò, sóc, sói, sáo sậu, sư tử, sơn ca, san hô… và sả, sắn, sim, sung, sến, sầu riêng, su hào, su su, so đũa…, trừ các trường hợp: xoài, xoan, xương rồng, vịt xiêm… Việc xác định các trường hợp lưỡng khả, tam khả và phân biệt các từ có âm đầu S-X, nắm vững mẹo Luật Chính tả cùng với ghi nhớ nghĩa của từ giúp cho các em học sinh chọn từ đúng, nhanh khi làm văn; củng cố kiến thức về tiếng Việt, nâng cao chất lượng học tập môn ngữ văn; đồng thời tăng thêm lòng yêu quý tiếng mẹ đẻ giàu đẹp, góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.

Đỗ Thành Dương

Question

Cập nhật vào

12 Thg 8 2021

  • Tiếng Trung (Hong Kong)
  • Tiếng Esperanto
  • Tiếng Việt
  • Tiếng Anh (Anh)

Câu hỏi về Tiếng Việt

xong rồi có nghĩa là gì?

xong rồi có nghĩa là gì?

Câu trả lời

Đọc thêm bình luận

  • Tiếng Việt
Rồi Xong Lên Xe Bông | Quách Tuấn Du | Official MV
Rồi Xong Lên Xe Bông | Quách Tuấn Du | Official MV

Nguyên nhân viết sai chính tả của từ xong xuôi

“Xong xuôi” hay “song xuôi” có sự trùng lặp, giống nhau trong cách phát âm, nếu như không nắm rõ thì rất dễ viết sai chính tả, đây là một lỗi sai chính tả mà có khá nhiều bạn đang mắc phải,…

Nguyên nhân khiến cho nhiều bạn viết sai chính tả của từ xong xuôi là do cách đọc bị sai, vì cách đọc bị sai nên cách viết cũng sẽ rất dễ bị sai theo, đồng thời có nhiều bạn bị ngọng phát âm giữa “x” và “s”, điều này đã khiến cho họ viết sai chính tả từ “xong xuôi” thành từ “song xuôi”.

Cuốn sách được đặt tiêu đề: Từ điển chính tả tiếng Việt (GS.TS Nguyễn Văn Khang – NXB Đại học Quốc gia Hà Nội – 2018, 806 trang, khổ 10.5 x 18cm; đơn vị liên kết Công ty TNHH Văn hoá Minh Tân – Nhà sách Minh Thắng).

Trong phần “Hướng dẫn cách sử dụng từ điển”, GS.TS Nguyễn Văn Khang cho biết: “Từ điển chính tả tiếng Việt” này được biên soạn dựa trên cách xử lí chính tả trong “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học” (Hoàng Phê chủ biên). Tuy nhiên, thực tế cho thấy GS.TS Nguyễn Văn Khang hoàn toàn không “xử lí chính tả” theo tài liệu đã nêu, mà “xử lí” theo cảm tính chủ quan, hoặc căn cứ theo một nguồn tài liệu nào đó, dẫn đến rất nhiều sai sót.

Qua so sánh đối chiếu chúng tôi thấy cuốn Từ điển chính tả tiếng Việt (2018) và cuốn Từ điển chính tả tiếng Việt phổ thông (Nguyễn Văn Khang – NXB Khoa học Xã hội – 2003), gần như giống nhau hoàn toàn. Nghĩa là có tới gần như 100% số lỗi được bê nguyên xi từ cuốn trước (2003) sang cuốn sau (2018). Khác nhau có chăng là lỗi văn bản ở cuốn sau nhiều hơn cuốn trước.

Những sai sót trong cuốn Từ điển chính tả tiếng Việt của GS.TS Nguyễn Văn Khang, bao gồm rất nhiều mặt, như: sai chính tả do lẫn lộn CH với TR, S với X; D với R; GI với D; L với N; IU với ƯU; dấu hỏi (?) với dấu ngã (~); sai kiến thức, hiểu biết về thành ngữ tục ngữ, sai về từ ngữ Hán Việt…Nhiều mục chỉ dẫn chính tả hoàn toàn ngược lại với chuẩn chính tả hiện hành; chỉ dẫn giữa các mục từ tiền hậu bất nhất; hướng dẫn viết nhiều dạng chính tả không chuẩn, và rất nhiều lỗi văn bản khác.

Để chỉ ra sai sót trong từ điển của GS.TS Nguyễn Văn Khang, chúng tôi sẽ căn cứ vào chính Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học – Hoàng Phê chủ biên, gọi tắt là Hoàng Phê), và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, có sửa chữa bổ sung sau khi GS. Hoàng Phê thành lập Trung tâm Từ điển học Vietlex, gọi tắt là Hoàng Phê (Vietlex) để làm chuẩn. Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào nhiều cứ liệu trong hàng chục cuốn từ điển khác. Những mục không có bất cứ cuốn từ điển uy tín nào chúng tôi có trong tay viết theo dạng chính tả mà GS.TS Nguyễn Văn Khang hướng dẫn, sẽ được đánh dấu [K], sau mỗi phần trao đổi:

4 lỗi trong 1 mục từ của cuốn từ điển xuất bản năm 2003 (bên trái) được GS.TS Nguyễn Văn Khang bê nguyên xi sang cuốn từ điển xuất bản năm 2018 (bên phải)

Sai chính tả do không nắm được nghĩa yếu tố cấu tạo từ; do thiếu tra cứu cẩn thận (phần trong ngoặc kép sau số mục là nguyên văn của từ điển; phần xuống dòng tiếp theo là trao đổi của HTC):

1-“chầy: chầy chật. → không viết: trầy”.

Viết chuẩn là “trầy trật” (trầy da, trật xương). Hoàng Phê: “trầy trật t. Vất vả, phải mất nhiều công sức và trải qua nhiều lần vấp váp, thất bại. Trầy trật mãi mới thi đỗ”. [K].

2-“chẽn: chiếc xe nằm chẽn lối đi. → không viết: chẹn”.

Viết “chẹn” mới chuẩn. Hoàng Phê (Vietlex): “chẹn đg. đè nặng hoặc chặn ngang làm cho nghẹt, cho tắc lại. đất đá chẹn mất cửa hang ~ tức chẹn họng (b)”. [K].

3-“cheo: quắt cheo”.

Chỉ có “quắt queo” (ghép đẳng lập): “quắt” = khô cong, teo lại; “queo” = cong, co lại. Hoàng Phê: “quắt queo t. Quắt (nói khái quát). Bị hạn, lúa héo quắt queo. Người gầy bé quắt queo”. [K].

4-“chéo: chéo ngoe. → không viết: tréo”.

Viết “tréo” mới đúng (“tréo” = cái nọ quặp, ngoắc, vắt lên cái kia); trong khi “chéo” chỉ là những đường xiên cắt nhau. Hoàng Phê: “tréo ngoe t. (ph., hoặc kng.). Rất ngược đời. Chuyện tréo ngoe”.[K].

5-“chét: Chét cho kín các khe hở. → không viết: trét”.

Viết “trét” không sai, thậm chí “trét cho kín” mới chuẩn chính tả phổ thông. Hoàng Phê: “trét đg. Làm cho kín bằng cách nhét một chất dính vào chỗ hở và miết kĩ. Trét kín các kẽ hở. Trét thuyền”.[K].

6-“chia: chia xẻ (= chia sẻ)”.

Chỉ dẫn “chia xẻ” = “chia sẻ” là sai. “Xẻ” trong “chia xẻ” (chia, xẻ/cắt ra nhiều phần, khiến cho không còn nguyên vẹn như vốn có nữa), chính là “xẻ” trong “chia năm xẻ bảy” (tình trạng bị phân tán, chia cắt, xé lẻ). Còn “sẻ” trong “chia sẻ” (cùng hưởng, cùng chịu), lại là “sẻ” trong “chia ngọt sẻ bùi” (cùng chung hưởng với nhau, dù ít dù nhiều).

Như vậy, “chia xẻ” và “chia sẻ” không phải một từ với hai dạng chính tả, mà là hai từ khác nhau.[K].

9-“dặm: Hát dặm. → không viết: giặm”.

Viết “giặm” không sai. Hoàng Phê (Vietlex): “hát giặm d. lối hát dân gian, nhịp điệu dồn dập, lời dựa vào thơ năm chữ, hai câu cuối bao giờ cũng lặp lại về âm vận và cao độ, phổ biến ở Nghệ An, Hà Tĩnh”.

8-“dọi Dọi đèn pha. → không viết: rọi”.

Viết “rọi” mới đúng. Vì “rọi” trong “rọi đèn pha” chính là “rọi” trong “soi rọi”. Hoàng Phê: “rọi đg. Hướng luồng ánh sáng chiếu thẳng vào. Rọi đèn pha. Ánh nắng rọi qua khung cửa”.

10-“giơ: Trục bánh xe bị giơ (= rơ) // ăn giơ. → không viết: dơ, rơ”.

Mục này mắc hai lỗi chính tả + hai chỉ dẫn sai:

① Nếu muốn nói các bộ phận, chi tiết không còn ăn khớp với nhau, thì phải viết “RƠ” (bị rơ), không viết “GIƠ”. Hoàng Phê (Vietlex): “rơ [Fr: jeu] t. [bộ phận trong máy móc] không còn khớp chặt với chi tiết khác nữa. trục xe bị rơ ~ bánh xe rơ”. [K]

② Nếu “ăn giơ” với nghĩa “ăn bẩn” (“ăn dơ, ở bẩn”), thì phải viết “dơ” (ăn dơ).

③ Nếu “ăn giơ” với nghĩa “thoả thuận ngầm với nhau, hoặc “hợp ý nhau, phối hợp ăn ý với nhau, thì phải viết “rơ” (ăn rơ; Pháp: jeu = trò chơi). Hoàng Phê: “ăn rơ đg. (kng.). Có ý định hợp với nhau, tạo ra sự nhất trí trong hành động; ăn ý. Các cầu thủ chơi rất ăn rơ”. Hoàng Phê (Vietlex) chú gốc Pháp: “ăn rơ • [Fr: jeu] đg. [kng] thoả thuận ngầm với nhau, đi đến sự nhất trí trong hành động [thường dùng với nghĩa xấu]. kế toán ăn rơ với giám đốc để rút tiền công quỹ • t.[kng] hợp ý nhau, tạo ra sự phối hợp ăn ý trong hành động, lời nói. hai người diễn rất ăn rơ với nhau. Đn: ăn ý”.

Tóm lại, dù thế nào thì cũng “không có cửa” cho “bị giơ” và “ăn giơ”.

11-“khuông khuông nhạc // → không viết: khuôn”.

Viết “khuôn” mới đúng. Hoàng Phê: “khuôn nhạc d. Nét nhạc hoàn chỉnh về giai điệu, có vế cân đối, có thể được nhắc lại nhiều lần bằng lời khác.”. [K].

27-“lền: lền trời // → không viết: nền”.

Không rõ “lền trời” đây nghĩa là gì. Nếu “lền” là cái được trải rộng ra và làm nổi lên những gì trên đó, thì phải viết là “nền” = nền trời. Nếu “lền” có nghĩa là nhiều, đông; “lền trời” = đầy trời, thì phải có phụ chú để người dùng không bị nhầm lẫn (đây chỉ là phỏng đoán, vì không thấy bất cứ cuốn từ điển nào ghi nhận “lền trời”). Ví dụ, một người có tật nói ngọng (lẫn lộn N thành L), đang phân vân không biết viết “nền trời” hay “lền trời”, khi giở từ điển chính tả, gặp chỉ dẫn như mục “lền” sẽ bị viết sai.

28-“lợn: lợn nòi, lợn nái, lợn rừng…”.

Mục này có 2 điểm cần trao đổi:

-Nếu viết “lợn nòi” thay vì “lợn lòi” là sai. Vì “lòi” trong “lợn lòi” nghĩa là thòi, lòi ra, chỉ giống lợn nanh lòi, chìa ra ngoài, mà Hoàng Phê giảng: “lợn lòi d. Lợn rừng to, nanh lớn chìa ra khỏi mép”. Gọi “lợn lòi” cũng như dân gian gọi “cá thòi lòi”, chỉ giống cá có đôi mắt “thòi”, “lòi” hẳn ra ngoài như mắt cua. Điều quan trọng hơn, xưa nay không có từ điển chính tả nào viết “lợn nòi” để chỉ giống lợn rừng (lưu ý: mục “lợn”, không thấy Từ điển của GS. TS. Nguyễn Văn Khang thu thập “lợn lòi”).

-Nếu “lợn nòi” được hiểu như “gà nòi”, “ngựa nòi”, “chó nòi”, thì khái niệm này cũng hoàn toàn xa lạ. Người ta không gọi một con lợn thịt ngon là “lợn nòi”, nhưng sẽ gọi con gà chọi, ngựa đua, chó săn…là gà nòi, ngựa nòi, chó nòi…. Vì “nòi” ở đây là chỉ đặc tính di truyền ưu việt, tố chất vượt trội nào đó. [K].

14-“rắn: rắn dọc dừa”.

15-“rắn: rắn dọc dưa”.

Không có loại rắn nào gọi là “dọc dừa”, hay “dọc dưa”, mà chỉ có “rắn sọc dưa”, còn gọi rắn rồng hay rắn hổ ngựa (tên khoa học: Coelognathus radiata). Sở dĩ gọi là “rắn sọc dưa” vì rắn có sọc chạy dọc theo thân mình, giống như sọc của quả dưa.[K].

16-“rắt//đái rắt. → không viết: dắt”.

Viết “đái dắt” mới chuẩn. Hoàng Phê (Vietlex): “đái dắt • đg. [bệnh] đái liên tục nhiều lần, nhưng mỗi lần đều đái rất ít. Đn: đái láu”.

17-“riếc: riếc móc (= nhiếc móc) → không viết: diếc”.

Viết “nhiếc” mới chuẩn. Hoàng Phê: “diếc móc • đg. [ph] xem nhiếc móc”.

18-“rò: Rò lan. → không viết: dò, giò”.

Viết “dò” mới đúng. Hoàng Phê: “dò • d. nhánh cây hoa, cây cảnh được trồng riêng [với một số loại cây]. dò phong lan ~ dò thuỷ tiên”.

19-“rỏ = nhỏ: nhỏ rãi”.

Viết “nhỏ dãi” mới đúng. Hoàng Phê: “dãi • d. nước dãi [nói tắt]. “Về đến nhà, con bé khóc hết hơi. Con lớn thì lem luốc, mũi dãi (…) bôi đầy mặt.” (Nam Cao)”.

20-“ròm: ống ròm. → không viết: dòm”.

Viết chuẩn là “nhòm”. Hoàng Phê: “ống nhòm • d. dụng cụ quang học dùng để quan sát những vật ở xa. quan sát bằng ống nhòm. Đn: ống dòm”.

21-“ron: Con ron. → không viết: don”.

Viết “don” mới đúng. Hoàng Phê: “don d. Loài hến nhỏ, sống ven biển”.[K].

22-“rong rong riềng → không viết: dong”.

Viết “dong” mới đúng. Hoàng Phê: “dong riềng d. Cây trồng, thân cỏ, lá to, màu tím nhạt, củ trông giống củ riềng, chứa nhiều tinh bột, dùng để ăn hoặc chế bột làm miến”. [K].

23-“rứt: rứt tình → không viết: dứt”.

Viết “dứt tình” mới đúng. Vì “dứt” (Hán = đoạn 斷/tuyệt 絕); “dứt tình” = đoạn tình, tuyệt tình. Hoàng Phê: “dứt: 2 Làm cho đứt sự liên hệ, lìa bỏ hẳn cái gắn bó về tình cảm, về tinh thần. Không thể dứt tình máu mủ.[K].

24-“sâm: sâm sấp. → không viết: xâm”.

Viết chuẩn là “xăm xắp”. Hoàng Phê: “xăm xắp • t. [nước] ở mức không đầy lắm, chỉ đủ phủ kín khắp bề mặt. nước xăm xắp mặt ruộng ~ “Nước sông trong veo lặng lẽ trôi, mùa lũ nước sông dềnh lên xăm xắp đôi bờ cỏ cây xanh tốt.” (Dương Hướng). Đn: xâm xấp”.

25-“sập: sập sè”.

Viết chuẩn là “xập xoè”.

26-“sè: sập sè: không viết: xè”.

“Xập xè” là dạng ít dùng, viết chuẩn là “xập xoè” (xập lại và xoè ra).

27-“si: nguyên si. → không viết: xi”.

Viết “xi” mới đúng. Vì “xi” [cire] gốc Pháp, có nghĩa như Hoàng Phê giảng: “xi d. Chất làm bằng cánh kiến pha lẫn tinh dầu, dùng để niêm phong bao, túi, gắn kín nút chai lọ, v.v. Xi gắn nút chai. ~ Đóng dấu xi”. Khi ta nói còn “nguyên xi”, tức còn nguyên dấu gắn xi, chưa mở ra, với nghĩa rộng như Hoàng Phê giảng: “nguyên xi t. (kng.). 1 Còn nguyên như mới, như hoàn toàn chưa dùng đến. Chiếc đồng hồ còn mới nguyên xi. Số tiền còn nguyên xi, chưa tiêu đồng nào. 2 Y như vốn có, không có sự thay đổi, thêm bớt. Giữ nguyên xi bản thảo. Bắt chước nguyên xi.”.[K].

28-“siếc: siếc sẫm”.

Viết chuẩn là “siếc sẩm”.

29-“siêu: siêu tán. → không viết: xiêu”.

Viết “xiêu” mới đúng. Vì “xiêu” có nghĩa là trôi nổi, lưu lạc (như hồn xiêu phách lạc, xiêu lạc, xiêu dạt, xiêu lưu…). Hoàng Phê (Vietlex): “xiêu tán 飄散 [phiêu tán nói trại] đg. [cũ] như phiêu tán. dân phải xiêu tán vì giặc giã”. [K].

30-“siêu: liêu siêu. → không viết: xiêu”.

Viết “xiêu” mới đúng. Nếu xem “liêu xiêu” là từ láy, thì “xiêu” chính là tiếng gốc, có nghĩa là xiêu vẹo, xiêu đổ. Hoàng Phê: “liêu xiêu t. Ở trạng thái ngả nghiêng, lệch như muốn đổ. Đi liêu xiêu chỉ chực ngã”.[K].

31-“síu: tí síu. → không viết: xíu”.

Viết “xíu” mới đúng. Vì “xíu” nghĩa là “nhỏ” (trong “bé xíu”, “chút xíu”). Hoàng Phê: “tí xíu I d. (kng.; id.). Như chút xíu. Còn tí xíu nữa”. [K].

32-“soan: dâu da soan. → không viết: xoan”.

Viết “xoan” mới đúng. Hoàng Phê: “giâu gia xoan cv. dâu da xoan d. Cây nhỡ, lá kép lông chim, hoa trắng mọc thành chùm, quả như quả xoan, ăn được”. [K].

33-“song: song sóc. → không viết: xong”.

Viết chuẩn là “xong xóc”.

34-“sói: sỉa sói. → không viết: xói”.

Viết chuẩn là “xỉa xói” (ghép đẳng lập): “xỉa” là dùng ngón tay chỉ thẳng vào mặt người khác mà chửi mắng (như: Chửi gì thì chửi, đừng có xỉa vào mặt người ta như thế!); “xói” là hướng trực diện vào với cường độ mạnh (như Nhìn xói vào mặt; Nắng xói vào nhà). Hoàng Phê: “xỉa xói đg. Giơ ngón tay xỉa liên tiếp vào mặt người khác để mắng chửi”.[K].

35-“sở: xoay sở → không viết: xở”.

Viết “xở” mới đúng (ghép đẳng lập): “xoay” nghĩa là chạy vạy, tìm đủ mọi cách cho được, có được (như xoay tiền); “xở” là làm, sửa soạn, tháo, gỡ (như xở việc; vội không xở kịp). Người Thanh Hoá nói: Nhà bác xở cơm chưa? = Nhà bác đã làm cơm chưa? Hoàng Phê: “xoay xở đg. Làm hết cách này đến cách khác để giải quyết cho được khó khăn, hoặc để có cho được cái cần có. Xoay xở đủ nghề. Giỏi xoay xở. Xoay xở tiền mua xe. Hết đường xoay xở”. [K]

36-“sởi: sởi lởi. → không viết: xởi”.

Viết “xởi” mới đúng. Nếu xem “xởi lởi” là từ láy, thì “xởi” chính là tiếng gốc. Tuy nhiên, “xởi lởi” là từ ghép đẳng lập: “xởi” = rời ra, tơi ra; “lởi” là biến âm của “lơi” = lỏng, không chặt. Khi hợp nghĩa, “xởi lởi” được hiểu là cởi mở, rộng rãi (tính xởi lởi), đối với hẹp hòi, chặt chẽ (như: Xởi lởi thì trời cởi cho, xo ro thì trời co lại – tục ngữ). Đại Nam quấc âm tự vị: “xởi lởi: rời rộng”; Hoàng Phê: “xởi lởi • t. [kng] 1. Tỏ ra cởi mở, dễ dàn trong quan hệ tiếp xúc với người khác. chuyện trò xởi lởi với nhau.” [K].

37-“quốc: trứng quốc”.

Chỉ có một dạng chính tả duy nhất: “trứng cuốc” (chuối trứng cuốc – chuối tiêu mùa đông khi chín vỏ chuyển sang màu vàng sẫm và lốm đốm như trứng chim cuốc; cây trứng cuốc – loại cây có quả hình thù và màu sắc lốm đốm như trứng chim cuốc; hoặc tổ hợp “trứng cuốc” (trứng chim cuốc); “tổ cuốc” (tổ chim cuốc). Sở dĩ phải viết “cuốc” là để phân biệt với “quốc” 國 – yếu tố gốc Hán – nghĩa là “nước”, trong các cấu tạo từ: tổ quốc 祖國, quốc gia 國家, quốc kì 國旗…[K].

38-“trản: Đĩa trản lòng. → không viết: trảng”.

Viết “trảng” mới đúng, vì “trảng lòng” có nghĩa là “cạn lòng”. “Việt Nam tự điển” (Lê Văn Đức): “trảng lòng tt. Trẹt, cạn lòng, có cái đáy cạn: Dĩa (đĩa) trảng lòng, sông trảng lòng”.[K].

39-“tràng: tràng dịch. → không viết tràn”.

Không hiểu “tràng dịch” đây có nghĩa là gì. Nếu “tràng dịch” với nghĩa một chứng bệnh, thì phải viết “tràn dịch” mới đúng (như tràn dịch khớp gối; tràn dịch màng phổi…).[K].

40-“trói: trăng trói (=trăng trối)”.

“Trăng trói” nghĩa là gông và trói. Không hiểu căn cứ vào đâu, GS. TS. Nguyễn Văn Khang chỉ dẫn “trăng trói = trăng trối”:

-Việt Nam tự điển (Lê Văn Đức): “trăng • dt. Gông làm bằng hai tấm ván có khoét lỗ tròn để tròng vào cổ hay vào chân người có tội: Dện trăng, đóng trăng, mang trăng, ních trăng, ngồi trăng”; “trói • đt. Buộc, cột chặt (chỉ dùng cho người và loài vật) : Buộc trói, cột trói, trăng-trói; Trói voi bỏ rọ (tng)”;“trăng trói • đt. Đóng trăng hoặc trói lại, tiếng dùng chung cho việc giam giữ người có tội : Ngoá An-nam, lứ khách-trú, Trăng trói lùm-xùm nhau một lũ…,”.[K].

-Việt Nam tự điển (Hội Khai trí Tiến đức): “trăng-trói • Gông cổ và trói tay. Nghĩa bóng: Bó-buộc hành-hạ người ta <> Dân nghèo bị kẻ cường-hào trăng-trói đủ đường.”.

41-“trân: trân tráo. → không viết: trâng”.

Viết “trâng” mới đúng. Hoàng Phê: “trâng tráo t. Ngang ngược, láo xược, không kể gì đạo lí và dư luận xã hội, trơ trơ trước sự chê cười, khinh bỉ của người khác. Thái độ trâng tráo. Trâng trâng tráo tráo, chẳng còn biết xấu hổ là gì”. [K].

42-“trọc: tròng trọc. → không viết: chọc”.

Viết chuẩn là “chòng chọc”. Hoàng Phê: “chòng chọc t. (dùng phụ cho đg.). Từ gợi tả vẻ nhìn thẳng và lâu vào một chỗ mắt không chớp, biểu lộ sự ham muốn hoặc tò mò. Em bé nhìn chòng chọc vào đồ chơi bày trong tủ kính”.[K].

43-“trứng: trứng quốc, trứng sáo”.

Viết “trứng cuốc” mới đúng (xem lại mục 37).[K].

44-“trừu: trừu mến. → không viết: trìu”.

Viết “trìu” mới đúng. Vì “trìu” biến âm của “tríu” nghĩa là thương mến, không muốn rời ra. Hoàng Phê: “trìu mến đg. (hay t.). Biểu lộ tình yêu thương tha thiết. Vuốt ve trìu mến. ánh mắt trìu mến. Giọng trìu mến”. [K].

45-“xẩm: xẩm hát dong”.

Viết đúng là “hát rong”, vì “rong” mới có nghĩa là: “Đi đây đó hết chỗ này đến chỗ khác, không dừng lại lâu ở đâu cả. Suốt ngày chỉ rong chơi. Đi rong phố. Bán hàng rong. Gánh hát rong.” (Hoàng Phê).[K].

46-“xẻ: chia xẻ. → không viết: sẻ”.

“Chia xẻ” và “chia sẻ” là hai từ khác nhau. Bởi vậy, không có chuyện viết “chia xẻ” thay cho “chia sẻ”. (xem lại mục 6).[K].

47-“xỉa: xưng xỉa. → không viết: sỉa”.

Viết chuẩn là “sưng sỉa” (ghép đẳng lập): “sưng” = phồng, phù da thịt lên (như sưng mặt; sưng phù); “sỉa” = sưng phù lên (như Mặt sưng mày sỉa). Hoàng Phê: “sưng sỉa t. (Mặt) nặng ra, và như sưng lên, lộ rõ vẻ không bằng lòng. Mặt sưng sỉa như đang chửi nhau”. [K].

48-“xon: nốt xon (= son) trong bản nhạc”.

Chỉ có một dạng chính tả chuẩn duy nhất là “nốt son”. “Son” là từ gốc Pháp, Hoàng Phê (Vietlex): “son [Fr: sol] d. tên nốt nhạc thứ năm trong gam nhạc, kí hiệu là G”.[K].

49-“xương: xương quai sanh”.

Viết “xương quai xanh” mới đúng. Vì “xương quai xanh” (còn gọi xương đòn) là cách gọi xương theo hình dáng quai của cái xanh (“quai xanh, vành chảo”). Hoàng Phê: “xương quai xanh d. x. xương đòn”.[K].

Báo Kinh tế&Đô thị sẽ tiếp tục cập nhật những sai sót trong cuốn “Từ điển chính tả Tiếng Việt” của GS.TS Nguyễn Văn Khang.

xong

YÊU NHAU XONG RỒI | KUUN ĐỨC NAM | OFFICIAL MUSIC VIDEO | CHẲNG THỂ YÊU THÊM MỘT AI TỪ SAU NGÀY ẤY
YÊU NHAU XONG RỒI | KUUN ĐỨC NAM | OFFICIAL MUSIC VIDEO | CHẲNG THỂ YÊU THÊM MỘT AI TỪ SAU NGÀY ẤY

Khi nào thì nên sử dụng từ làm xong

Như bên trên mình đã chia sẻ đến bạn từ Làm xong hay Làm song đâu là từ viết đúng chính tả?. Tiếp theo, hãy cùng với mình tìm hiểu khi nào thì nên sử dụng từ làm xong bạn nhé!

– Sử dụng từ làm xong trong công việc: Nếu như bạn đã hoàn thành công việc, hoàn tất nhiệm vụ đã được giao phó thì bạn có thể sử dụng từ làm xong để chia sẻ về việc bạn đã hoàn thành công việc của mình.

– Sử dụng từ làm xong để thông báo: Nếu bạn đang được giao phó một công việc nào đó thì bạn có thể sử dụng từ làm xong để thông báo cho cấp trên, thông báo với mọi người là bạn đã làm xong công việc của mình.

Cách dịch tương tự

Cách dịch tương tự của từ “xong rồi” trong tiếng Anh

xong tính từ

rồi liên từ

English

rồi trạng từ

English

hẳn rồi trạng từ

English

qua rồi tính từ

chắc chắn rồi trạng từ

English

xong xuôi tính từ

ăn không ngồi rồi tính từ

English

ăn không ngồi rồi động từ

English

vừa rồi trạng từ

English

để rồi liên từ

English

ăn dưng ngồi rồi động từ

English

đã đi khỏi rồi động từ

English

từ lâu lắm rồi trạng từ

English

RHYDER - CHỊU CÁCH MÌNH NÓI THUA | ft. BAN x COOLKID | OFFICIAL MUSIC VIDEO
RHYDER – CHỊU CÁCH MÌNH NÓI THUA | ft. BAN x COOLKID | OFFICIAL MUSIC VIDEO

Song xuôi là gì?

Song xuôi là từ không có trong từ điển tiếng Việt, đây là một từ được xác định đã viết sai chính tả hoàn toàn, đồng thời sẽ không mang bất kỳ một ý nghĩa thật sự cụ thể hay chi tiết nào đối với từ song xuôi.

Trên một số trang mạng, nếu như bạn chăm chỉ lướt mạng xã hội thì bạn sẽ nhận ra được rằng vẫn có khá nhiều bạn đang bị mắc lỗi chính tả của từ xong xuôi, đây được coi là một lỗi sai chính tả không hề hiếm gặp.

Một số từ đồng nghĩa với từ làm xong

– Hoàn thành

– Hoàn tất

– Hoàn thiện

– Làm xong nhiệm vụ

– Làm xong công việc

Lời kết

Trên đây là thông tin về bài viết Làm xong hay Làm song đâu là từ viết đúng chính tả?. Qua những nội dung mà mình đã chia sẻ đến bạn, mong là bạn đã có thể nắm bắt được cách viết đúng chính tả của từ làm xong.

>> Gợi ý thêm dành cho bạn:

Kiểm soát, lục soát, soát vé không phải xoát vé. Nhưng Viện kiểm sát không phải…VK soát.

Sát = xem xét, là từ Hán Việt. Các từ ghép thường gặp: án sát, cảnh sát, giám sát, khảo sát, quan sát, thám sát, thị sát, trinh sát .. Âm Hán Việt không có

soát

Vậy nói cho chính xác, phải là

kiểm sát

(kiểm = tra xét, cũng là một từ Hán Việt)

Soát: gặp trong các từ

lục soát, rà soát, soát xét

.. các từ này đều được cấu tạo từ các âm không phải là âm Hán Việt, mà là các biến âm .. chẵng hạn

soát xét

thật ra đều có nguồn gốc từ

sát

Tuy nhiên thường vẫn quen dùng

kiểm soát

chẵng hạn trong câu

‘ phải kiểm soát chặt chẻ học sinh ..

, ít nghe thấy ai nói hay viết kiểm

sát

trong ngữ cảnh như thế. Trong tâm thức người nói bình dân, từ soát trong

lục soát

lấn át chính âm

sát

. Ở đây ta thấy một hiện tượng không hiếm trong ngôn ngữ – thói quen (dù sai) vẫn thắng, trở nên phổ biến, chiếm ưu thế so với cái đúng nhưng khó hiểu.

Vụng chèo khéo chống

cũng là một ví dụ. Ta còn gặp: nghe phong phanh (đúng: thanh), tôi

công

nhận (một mình tôi làm sao mà

công

? – dung xác nhận, nhận thấy .. hợp lí hơn) ..

Cũng xin nói thêm kiểu dùng nửa Nôm nửa Hán thế này từng bị nhiều nhà ngữ học phê phán, nhưng xem ra ngày càng được dùng nhiều: lành mạnh hóa, vôi hóa, lạ hóa, ..

Bạn nào có ý muốn tìm hiểu thêm về cách dung từ, tôi xin được giới thiệu cuốn

Nói có sách

của Vũ Bằng. (tác giả của

40 năm nói láo, thương nhớ mười hai

, .. người được xem là nguyên mẫu của nhân vật Hoàng trong tác phẩm Đôi mắt của Nam Cao)

I hay y

Dùng I hay y có lẻ không phải là chuyện .. thẩm mỹ, hay tiết kiệm

, mà cũng như d và gi, dấu hỏi và dâu ngã .. đều có những lí do, cơ sở khoa học của nó.

Ta biết rằng chữ Quốc ngữ là loại chữ

kí âm

: khoảng bốn thế kỷ trước các nhà truyền giáo Tây phương đã dung các con chữ Tây phương (chủ yếu là các mẫu tự Latin) để kí âm tiếng Việt. Các âm I và i: (I đọc kéo dài), âm d và âm gi, thanh hỏi thanh ngã được các cụ nhà ta xưa phát âm khu biệt rõ rang, vì thế các giáo sĩ đã phải kí âm khác nhau.

Qua thời gian, ngữ âm tiếng Việt có thay đổi: Một số âm bị mất đi: Âm ngày xưa người Việt nói là bl(ời) nay đã mất, biến đổi thành tr(ời). Âm

d/gi

thì hiện nay có lẻ chỉ trừ một số cụ lão ở các vùng Nghệ Tỉnh Bình Trị, ít người trong thực tế giao tiếp còn phát âm phân biệt được giữa

dày

giày

. Thanh hỏi, thanh ngã cũng chỉ trừ dân Hà Nội cùng một số tỉnh phía Bắc, số còn lại, đặc biệt dân Trung, Nam trong đời sống hàng ngày phát âm hoàn toàn như nhau.

Tương tự với âm /I/ và /i:/, hầu hết người Việt hiện đại phát âm ly và li là như nhau, không phân biệt trường độ của chúng.

Nguyên tắc của loại chữ kí âm là

nghe sao viết vậy

. Nay nghe một đường (không phân biệt li/ly dày/giày hay sửa/sữa), lại phải viết một nẻo, nên viết chính tả trở thành chuyện đánh đố làm khó nhau

. Dân miền Trung như tôi viết đúng hỏi ngã là chuyện còn khó hơn .. ăn ớt hiểm. Nhưng để tỏ lòng kính trọng với ngừơi đọc mình, và cũng là tự trọng thì cũng cố gắng sửa dần sao cho going mọi người chứ biết làm sao bây giở ?

Tôi vốn là dân học Toán, chẵng hiểu biết gì nhiều về ngôn ngữ. Qua đây thấy topic này rất đáng hoan nghênh nên góp mấy dòng gọi là

ủng hộ

, có gì chưa đúng cũng mong các bạn chỉ bảo thêm cho. Xin cảm ơn trước.

Rồi Nâng Cái Ly (Orinn Remix) - Nal | Nhạc Xuân Remix TikTok Gây Nghiện Hay Nhất 2022
Rồi Nâng Cái Ly (Orinn Remix) – Nal | Nhạc Xuân Remix TikTok Gây Nghiện Hay Nhất 2022

Làm song là gì?

Như bạn đã biết, từ làm song không được xuất hiện trong từ điển tiếng Việt, thế nên từ làm xong là từ đã được xác định viết sai chính tả và đồng thời từ làm song sẽ là từ không có nghĩa (vô nghĩa).

Trên một số bài đăng về công việc, dự án,… bạn có thể sẽ bắt gặp từ làm song tại một số bình luận trên Facebook, đó được cho là nỗi sai chính tả của từ làm xong khá phổ biến, được bắt gặp ở khá nhiều các bạn trẻ hiện nay.

Xong xuôi hay Song xuôi đâu là từ viết đúng chính tả?

Trong từ điển tiếng Việt chỉ có từ “xong xuôi”, hoàn toàn không có từ “song xuôi”, thế nên từ viết đúng chính tả ở đây sẽ là từ “xong xuôi”, từ viết sai chính tả sẽ là từ “song xuôi”.

Việc viết sai chính là điều mà hầu hết ai cũng đã từng mắc phải, vậy nên có khá nhiều bạn hiện nay rất hay nhầm lẫn giữa từ “xong xuôi” với “song xuôi”, họ chưa thể nắm rõ được đâu là từ viết đúng chính tả, vậy nên họ rất hay mắc lỗi sai chính tả của từ xong xuôi.

>> Xem thêm: Trầy trật hay Chầy chật đâu là từ viết đúng chính tả?

Trấn Thành quẩy cực sung \
Trấn Thành quẩy cực sung \”Rồi tới luôn\” của Hồ Phi Nal, DatKaa gây nghiện với \”Hạ còn vương nắng\”

Tiếng Bảo An[sửa]

Từ nguyên[sửa]

Kế thừa từ tiếng Mông Cổ nguyên thuỷ *hon.

Danh từ[sửa]

xong

Thể loại:

  • Mục từ tiếng Việt
  • Mục từ tiếng Việt có cách phát âm IPA
  • Mục từ tiếng Việt có chữ Nôm
  • Động từ
  • Động từ tiếng Việt
  • Mục từ tiếng Bảo An
  • Từ tiếng Bảo An kế thừa từ tiếng Mông Cổ nguyên thuỷ
  • Từ tiếng Bảo An gốc Mông Cổ nguyên thuỷ
  • Danh từ
  • Danh từ tiếng Bảo An
  • tiếng Bảo An terms in nonstandard scripts
  • Tiếng Bảo An ở Thanh Hải

Hiện tại, bạn đang thắc mắc và muốn tìm kiếm câu trả lời cho từ Làm xong hay Làm song đâu là từ viết đúng chính tả?. Bài viết sau đây Tin nhanh Plus sẽ giải đáp chi tiết đến bạn từ làm xong với làm song từ nào mới là từ được viết đúng chính tả.

Mục lục bài viết

Nguyên nhân viết sai chính tả của từ làm xong

Làm xong hay làm song là những từ có sự đồng nhất, đồng âm với nhau trong cách phát âm và cách đọc, điều đó đã khiến cho nhiều bạn không được tự tin, không thể nắm bắt được đâu mới là từ đã được viết đúng chính tả.

Nguyên nhân viết sai chính tả của từ làm xong được bắt gặp nhiều nhất đến từ chính cách phát âm và cách đọc, rất nhiều bạn hiện nay đang bị nhầm lẫn khá nghiêm trọng trong cách phát âm giữa “X” và “S”, điều đó đã khiến cho họ không thể xác định, lúng túng và viết sai chính tả của từ “làm xong” thành từ “làm song”.

Rồi Tới Luôn - Nal (MV Audio Lyric Official )
Rồi Tới Luôn – Nal (MV Audio Lyric Official )

Làm xong hay Làm song đâu là từ viết đúng chính tả?

Trong từ điển tiếng Việt chỉ có từ “Làm xong”, hoàn toàn không có từ “Làm song”, vì thế từ được viết đúng chính tả ở đây sẽ là từ “Làm xong”, còn từ “Làm song” là từ đã bị viết sai chính tả.

Hiện tại, sự nhầm lẫn chính tả của từ làm xong khá phổ biến, đã có rất nhiều bạn chưa thể nắm bắt được từ làm xong với làm song đâu mới là từ được viết đúng chính tả, điều đó làm cho họ không được tự tin, thường xuyên mắc lỗi sai chính tả của từ làm xong, làm ảnh hưởng khá nhiều đến khả năng trò chuyện, nhắn tin của họ.

Tiếng Việt[sửa]

Cách phát âm[sửa]

Hà Nội Huế Sài Gòn
sawŋ˧˧ sawŋ˧˥ sawŋ˧˧
Vinh Thanh Chương Hà Tĩnh
sawŋ˧˥ sawŋ˧˥˧

Chữ Nôm[sửa]

(trợ giúp hiển thị và nhập chữ Nôm)

Cách viết từ này trong chữ Nôm

Từ tương tự[sửa]

Các từ có cách viết hoặc gốc từ tương tự

Động từ[sửa]

xong

  1. Kết thúc, hoàn thành.

    Công việc đã xong.
    Sau khi ăn xong.
    Xong việc.
  2. Yên ổn, không xảy ra điều gì tai hại.

    Chống lại lão ta thì không xong đâu.
    Tiến không được mà lùi lại cũng không xong.
Thành ngữ[sửa]
  • xong đời: chết
Từ dẫn xuất[sửa]
Dịch[sửa]

Tham khảo[sửa]

  • “xong”, Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển tiếng Việt miễn phí (chi tiết)
  • Thông tin chữ Hán và chữ Nôm dựa theo cơ sở dữ liệu của phần mềm WinVNKey, đóng góp bởi học giả Lê Sơn Thanh; đã được các tác giả đồng ý đưa vào đây. (chi tiết)
Notcool - \
Notcool – \”nghe xong roi thi ngu ngon nhe!\” | feat. ngah (prod. autrioly) [ lyrics video ]

Keywords searched by users: song rồi hay xong rồi

Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạ . Môn Giáo Dục  Địa Phương Nha A Chịđề Cương Ôn Tập Giữa Kì Môn Gd Đp
Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạ . Môn Giáo Dục Địa Phương Nha A Chịđề Cương Ôn Tập Giữa Kì Môn Gd Đp
Phần I: Đọc Ngữ Liệu Sau Và Trả Lời Các Câu Hỏi Bên Dưới: (3Đ)
Phần I: Đọc Ngữ Liệu Sau Và Trả Lời Các Câu Hỏi Bên Dưới: (3Đ) “Gạo Đem Vào Giã Bao Đau Đớn Gạo Giã Xong Rồi Trắng Tựa Bông. Sống Ở Trên
Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạ. Môn Giáo Dục  Địa Phương Nha A Chị Câu Hỏi 5207789 - Hoidap247.Com
Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạ. Môn Giáo Dục Địa Phương Nha A Chị Câu Hỏi 5207789 – Hoidap247.Com
Gạo Đem Vào Giá Bao Đau Đớn Gạo Gia Xong Rồi Trồng Tựa Bóng. Sống Ở Trên  Đời Người Cũng Vậy Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công” (Nghe Tiếng Giã Gạo -
Gạo Đem Vào Giá Bao Đau Đớn Gạo Gia Xong Rồi Trồng Tựa Bóng. Sống Ở Trên Đời Người Cũng Vậy Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công” (Nghe Tiếng Giã Gạo –
Yêu Nhau Xong Rồi. | Dương | Flickr
Yêu Nhau Xong Rồi. | Dương | Flickr
Lớn Rồi Học Biết Nhiều - Lời : Quỳnh Bird | Quốc Vương Cover - Youtube
Lớn Rồi Học Biết Nhiều – Lời : Quỳnh Bird | Quốc Vương Cover – Youtube
Cho Các Từ: Sẽ, Thật, Cũng, Ra, Đã, Chớ, Lắm, Sắp, Không, Hãy, Chẳng, Hơi,  Đều, Rồi, Xong Quá, Còn, Chưa, Rất, Đang, Vẫn,Vào, Được,Đừng.Hãy Sắp Xếp  Các Từ Trên
Cho Các Từ: Sẽ, Thật, Cũng, Ra, Đã, Chớ, Lắm, Sắp, Không, Hãy, Chẳng, Hơi, Đều, Rồi, Xong Quá, Còn, Chưa, Rất, Đang, Vẫn,Vào, Được,Đừng.Hãy Sắp Xếp Các Từ Trên
Chí Phèo/Phân Tích Đoạn
Chí Phèo/Phân Tích Đoạn “Bát Cháo Húp Xong Rồi…”/Học Văn Không Khó – Youtube
Rồi Một Ngày Cuộc Sống Hóa Hư Vô – Công Ty Tnhh Mỹ Thuật Sắc Màu
Rồi Một Ngày Cuộc Sống Hóa Hư Vô – Công Ty Tnhh Mỹ Thuật Sắc Màu
Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạvào Ngày 22 Tháng  6, Nửa Cầu Bắc Ngả Về Phía Mặt Trời Nhiều Nhất Và Có Diện
Anh Chị Giúp Em Nha Xong Rồi Em Cho Câu Trả Lời Hay Nhất Ạvào Ngày 22 Tháng 6, Nửa Cầu Bắc Ngả Về Phía Mặt Trời Nhiều Nhất Và Có Diện
Lớn Rồi Học Biết Nhiều - Bản Full - Youtube
Lớn Rồi Học Biết Nhiều – Bản Full – Youtube
Giúp Mình Với 🙏 - Olm
Giúp Mình Với 🙏 – Olm

See more here: sixsensesspa.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *